Thăm nhà thờ Phạm Đăng tại Gò Công 2

Đọc thêm!
thăm nhà thờ Phạm Đăng tại Gò Công

Đọc thêm!
Luật chơi về Cái tô sứ lớn của Họ Phạm ở Giông Sơn Qui

    LUẬT CHƠI CÁI TÔ SỨ LỚN CỦA DÒNG HỌ PHẠM Ở GIỒNG SƠN QUI
    VƯƠNG HỒNG SỄN




 
 
 
 
 












 
 
 














Đọc thêm!
Giấc mơ đã thành

Thứ ba, 16/10/2012 10:50
 
Hơn 2,2 tỷ đồng là khoản kinh phí mà Viện nghiên cứu di sản UNESCO - Đại học Waseda (Nhật Bản) đồng ý tài trợ không hoàn lại để hỗ trợ Thừa Thiên Huế trùng tu, phục hồi nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa. Dự án thành công, niềm tự hào của gia đình hòa trong niềm vui của cả cộng đồng và Huế lại có thêm địa chỉ du lịch độc đáo về một kiến trúc nhà rường tiêu biểu.

Níu giữ một di tích lịch sử
Từ những năm 1990, giáo sư Nakagawa Takeshi - Viện trưởng Viện nghiên cứu Di sản thế giới của UNESCO - Đại học Waseda, đến Huế với tư cách là giám sát kỹ thuật của UNESCO cho dự án trùng tu di tích Ngọ Môn, giáo sư đồng thời cũng đã rất quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu bảo tồn nhà rường Huế. Hiện nay, tuy không còn nhiều nhưng phủ đệ vẫn được xem là mảng kiến trúc quan trọng trong quần thể di tích cố đô nói chung và nhà vườn Huế nói riêng. Nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa là một trong những công trình di tích kiến trúc quan trọng đó, đang bị hư hại nghiêm trọng và đã được Nhật Bản chọn lựa để khảo sát nghiên cứu và lập dự án trùng tu bảo tồn. Khoản tài trợ hơn 2 tỷ đồng đã được Viện Di sản Waseda quyết định tài trợ được trích từ nguồn kinh phí nghiên cứu bảo tồn di sản thường niên.



Hiện trạng nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa



Nhà thờ Diên Phước Trưởng Công Chúa tọa lạc ở số 24 Kim Long. Dấu vết thời gian và sự đổ nát hiện rõ ngay công trình cổng tam quan đứng lẻ loi, cũ kỹ ngay bên đường, lặng lẽ bên dòng Hương thơ mộng. Ngôi nhà được xây dựng cách đây 158 năm, năm Tự Đức thứ 7, 1854.

Khu đất rộng trên 2ha xưa cũ nay cũng đã san sát nhà ở. Lối vào phủ cũng đã hun hút. Ngôi nhà là thể loại nhà rường 1 gian 2 chái tam, có quy mô lớn với diện tích nền 260m2. Mái lợp ngói liệt, hệ bao che bằng tường xây gạch. Hệ khung gỗ được cấu trúc từ 4 cấu kiện nguyên lý là cột – kèo – xuyên – trến rất đặc trưng của kiến trúc 4 mái tiêu chuẩn của nhà rường truyền thống Huế. Hiện nay, hệ khung gỗ đã rệu rã, mái ngói thấm dột toàn diện, nấm mối xâm thực, bề mặt công trình bị phong hóa.


Dấu vết thời gian và sự đổ nát


Từ các cứ liệu lịch sử và kết quả khảo sát ngôi nhà, Viện Di sản Waseda đã nhận định đây là một công trình có giá trị đặc biệt về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hóa và khoa học công nghệ, là cầu nối giữa dòng kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian ở Huế, rất có giá trị trong dòng chảy của lịch sử kiến trúc Việt Nam nói chung và Huế nói riêng. Vì vậy, viện đã chủ động đề xuất với UBND tỉnh cho phép nghiên cứu lập dự án trùng tu công trình này. TS. Phan Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, nhấn mạnh thêm: Nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa là một phủ đệ có mối liên kết chặt chẽ với quần thể di tích Huế và có giá trị kiến trúc, nghệ thuật đáng trân trọng nhưng đang xuống cấp nghiêm trọng nên việc tu bổ phục hồi là rất cần thiết và cấp bách. Thông qua dự án này, các chuyên gia của hai nước sẽ có thêm cơ hội để trao đổi và học hỏi kinh nghiệm về bảo tồn kiến trúc truyền thống góp phần nâng cao năng lực và kỹ năng để thực hiện việc trùng tu và phát huy giá trị di sản Huế ngày càng hiệu quả hơn.



Nội thất



Giấc mơ lớn đã thành

Diên Phước Trưởng Công chúa tên húy là Nguyễn Phúc Tịnh Hảo, con gái trưởng của vua Thiệu Trị, là chị ruột của vua Tự Đức. Công chúa sinh năm 1824. Năm 1846, bà lập gia đình với Phò mã Nguyễn Văn Ninh và được vua cha làm nhà cho ở riêng. Năm 1848, bà mất lúc vừa tròn 24 tuổi. Năm 1854, vua Tự Đức đã cho xây dựng lại ngôi nhà với tên gọi “Diên Phước Trưởng Công chúa từ” để làm nơi thờ tự chị gái mình. Thế hệ thừa kế đầu tiên sau Công chúa và Phò mã là ông Nguyễn Ba. Hiện, chủ sở hữu ngôi nhà là bà Phạm Thị Tuyết Mai và con trai là ông Nguyễn Tài, thế hệ thứ 5. Kể từ thời điểm xây dựng cho đến nay, công trình này đã tồn tại 158 năm và đã trải qua một vài sửa chữa cải tạo nhỏ. Gia chủ còn lưu giữ gần như nguyên vẹn hệ thống nội thất phong phú và có giá trị như: hoành phi, liễn đối, tranh gương, sập gụ, tủ và án thờ… Đặc biệt là cuốn sách đồng do vua Thiệu Trị ban, nói về đức hạnh và công lao của Diên Phước Trưởng Công chúa đối với vua cha và dòng tộc. Theo Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế - đơn vị phối hợp thực hiện dự án, công trình sẽ được trùng tu theo hình thức kiến trúc và kết cấu trước lúc hạ giải nhằm trả lại giá trị lịch sử, sự thích ứng về công năng và thẩm mỹ cao nhất. Nhưng không làm biến dạng di tích, gìn giữ tối đa các cấu kiện và vật liệu nguyên gốc, đảm bảo tính chân xác và khoa học trong công tác trùng tu bảo tồn di tích. Sau khi tu bổ xong, gia đình tiếp tục gìn giữ, sử dụng ngôi nhà là nơi thờ Diên Phước Trưởng Công chúa và bảo vệ công trình như là một di tích kiến trúc nghệ thuật nhà rường Huế cho con cháu đời sau.

Bà Phạm Thị Tuyết Mai không chút ngần ngại khi tôi ngỏ ý được thăm công trình nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa, hiện đã được các đơn vị liên quan chuẩn bị công trường để khởi công vào cuối tháng 10. Bà bảo, trước đây, hôm nay và cả mai này nữa, gia đình không hẹp hòi chi trong việc mở cửa đón khách tham quan. Rồi bà vui vẻ kể câu chuyện liên quan đến những chuyên gia Nhật Bản – những người nay mai sẽ trực tiếp thực hiện dự án trùng tu nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa. “Cứ như cái duyên mà gặp vậy. Tui thì không nhớ, nhưng mấy chuyên gia đó thì lại nhớ và nhắc lại. Họ bảo, trong số rất nhiều ngôi nhà cổ ở Huế mà họ đến, tui là một trong những chủ nhà đã đón họ một cách vui vẻ, tự nhiên và gần gũi. Chính điều này đã thôi thúc họ góp sức để sửa chữa, giữ lại ngôi nhà trước sự hủy hoại của thời gian và thời tiết”, bà Tuyết Mai vui vẻ. Bà chia sẻ thêm, công trình được Nhà nước tạo điều kiện để các chuyên gia Nhật Bản trùng tu, bảo tồn nhà thờ Diên Phước Trưởng Công chúa là như đã giúp dòng họ và gia đình bà thực hiện được ước mơ lớn của cuộc đời. Trước đây, con cháu cũng đã đóng góp để sửa chữa ít nhiều, nhưng kinh phí cần đến tiền tỉ thì con cháu không đủ sức. Tổ tiên đã chỉ người để đến giúp, gia đình toại nguyện rồi. Chỉ mong mưa thuận gió êm để không ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện công trình của các đơn vị thôi.

http://khamphahue.com.vn/Default.aspx?layout=3&lvbvid=A172D222-093C-40D2-A83D-F901F123540F&bvid=10480&AspxAutoDetectCookieSupport=1

Đọc thêm!
Ai ra xứ Huế

Qua những tà áo, thử tìm hiểu thị hiếu về màu sắc của người Huế thuở trước
16:46
30/07/2010
PHẠM ĐĂNG TRÍ

Thuở ấy, có nhiều người từ những miền đất màu mỡ nhưng vẫn dời nhà đến ở trên một vùng gò đồi đầy sỏi đá. Nguyên nhân lôi cuốn họ tới đây là do màu sắc thiên nhiên ở chốn này thật là thanh tú, đa dạng và không ngừng thay đổi.

Ảnh chỉ mang tính minh họa

Màu sắc đó hiện ra trên ngọn núi Ngự tuy không cao mà có đường nét thanh lịch và khỏe giống như chiếc bình phong, như người đàn ông nhã nhặn. Màu sắc còn hiện ra trên dòng nước không lấy chi làm sâu mà hiền hòa, trong sáng và uyển chuyển như cô gái “Sông Hương”.

Phải chăng vì màu sắc thiên nhiên tại Huế xinh đẹp như vậy nên đã làm say đắm lòng người, đã tác động đến màu sắc do con người tạo ra trong đời sống hàng ngày qua những chiếc bánh, những chiếc lồng đèn ngũ sắc và nhất là qua những tà áo nhuộm màu phong phú… Màu sắc đó đã phản ánh vào trong nghệ thuật, song cũng có khi ngược lại, những hợp sắc của tạo hình lại được phổ biến trong đời sống. Cuối cùng, những màu do con người sáng tạo trở lại tác động chính mình. Đấy là nguyên nhân hình thành và nuôi dưỡng năng khiếu thẩm mỹ và thị hiếu màu sắc của con người Huế.

Trong quá trình tác động qua lại không ngừng giữa người và màu sắc, dần dần con người Huế đã nắm được quy luật màu sắc, đã xây dựng những quy tắc, những phương thức thể hiện những bảng tính hợp sắc… dùng để vận dụng trong sáng tác. Do đó, màu sắc Huế mỗi ngày mỗi được nâng cao.

Điều vừa nói không phải là giả thiết mà là sự thật. Bởi gần đây, tôi đã xây dựng được một bảng tính những hợp sắc tương phản, dựa trên cơ sở “Ngũ sắc của Huế” và dựa trên quan niệm về “âm dương” của các cụ thường trao đổi với nhau mà tôi được nghe khi mình còn nhỏ. Đáp số trong bảng ấy, không những phù hợp với những hợp sắc của nghệ thuật thêu thùa (1) và nghệ thuật pháp lam Huế (2)… mà còn phù hợp với những cặp màu trong “dĩa khoa học” của Rood (3) là dĩa tìm thấy những sắc tương phản chính xác qua chứng minh bằng những thử nghiệm. Lại nữa, bằng vào những hợp sắc thường tái hiện trong nhiều tác phẩm và trong những loại hình nghệ thuật cổ truyền tại Huế, tôi nghĩ rằng, nhất định người xưa đã tìm được bản tính màu sắc cách đây gần hai thế kỷ. Riêng về dạng xây dựng của nó có giống với bản tính của tôi hay không là điều kiện chưa rõ mà cũng không đáng cho ta đặt thành vấn đề.

Trong phạm vi bài này, không cho phép tôi nói rộng và dài dòng mà khoanh vùng trong phạm vi về y phục nhằm để giới thiệu với bạn đọc vài nét liên hệ đến thị hiếu màu sắc của người Huế cách đây hơn nửa thế kỷ.

Thuở ấy, trong những ngày bình thường tại Huế, màu sắc của y phục thường hiện ra rất khiêm tốn, gần như chỉ có trắng và đen. Đôi lúc, xen vào một số tà áo tím mà thôi.

Nét đặc biệt của giới phụ nữ thời đó là rất hiếm thấy xa lìa chiếc nón bài thơ bằng lá nõn nà. Nhất là với tà áo trắng thì người con gái Huế luôn luôn gắn liền với nó dù là trong những lúc nấu nướng, giã gạo… ở trong nhà. Hoặc đi buôn thúng bán bưng ngoài chợ và kể cả lúc gánh than đi bán, cũng không thay đổi sắc áo này.

Trừ ra, cô lái đò vùng ven đô mới kết thêm trên bộ quần áo trắng tinh, những miếng vải đen để tiện thay những nơi thường hay bị rách do động tác chèo thuyền của mình. Đồng thời cũng để tạo ra một kiểu y phục xinh đẹp, sinh động trên dòng sông Hương.

Đối với màu tím, phụ nữ Huế quan niệm đó là một sắc trang nhã. Trông không buồn mà chỉ như mỉm cười. Không quá nồng nàn như bông lài mà thoang thoảng như hương lan thanh đạm và tế nhị. Vì vậy, đàn bà con gái thường mặc màu tím trong những khi giao tế bình thường hay trong những ngày kỵ giỗ (sau thời kỳ hết tang). Và nữ sinh thường chọn màu này để làm đồng phục.

Soi màu này qua chiếc “kính khoa học”, tím là sắc lạnh, là sắc thuộc âm, nằm dưới cùng trong quang phổ, phát ra bước sóng ngắn và sức sáng nhẹ nhàng… Điều vừa trình bày, chứng tỏ ý thức thẩm mỹ của chị em phụ nữ xứ này qua việc chọn màu tím để ví với đức tính của mình thì thật là tinh tế. Do đó, đã sinh ra từ ngữ “màu tím Huế”.

Về y phục đàn ông, con trai, trình bày khá đơn giản. Trong nhà, mặc áo quạ trắng (4) và quần dài trắng có thêm chiếc dây lưng nguyên khổ bằng thao để mộc hay nhuộm màu nguyệt bạch (5) rủ xuống gần đến đầu gối.

Cũng vì dây lưng này mà thuở nhỏ tôi thường bị bà tôi la rầy, bởi không buộc nó mỗi lần đá kiện: “Con vật còn có cái đuôi để che, đàn ông con trai mà thiếu dây lưng thì coi răng cho được”.

Theo thông thường, lúc tiếp khách, khi đi dạo phố hay cúng kiếng… mọi người đầu bịt khăn và mặc áo dài đen.

Đến ngày hội, ngày tết, nhà nhà đều mở rương lấy ra những áo quần còn mới, tiết ra mùi thơm như bông cau trong vườn lúc tinh sương, hoặc có mùi thơm như hoa mù u vào những đêm trăng sáng. Đó là mùi “hương bài”, là những cọng cỏ thơm, những lát trầm hương thái mỏng chứa trong những bao giấy hay bao vải thưa theo hình chữ nhật dài giống như tấm thẻ bài.

Cũng trong những ngày vui ấy, từ thôn quê đến thành thị đều nhuộm thắm những sắc tươi đẹp:

Ông già râu tóc bạc phơ; toàn bộ áo quần, khăn giày đều là những màu thiên về đỏ. Con trai, đàn ông còn trẻ mặc áo xanh sẩm, lót màu cổ đồng (6). Các bà cụ ưa chít khăn màu lục, mặc áo màu lá cam, bày ra chút áo bên trong màu da lang (7) thật thắm. Đàn bà, con gái thường chọn những áo cặp đôi như màu lát gừng và bông bèo, màu tường vi và nguyệt bạch, màu mỡ gà và xanh da trời…

Trong lễ cưới, cô dâu thường mặc cặp áo điều lục (8) và bà bưng quả hộc mặc áo rộng xanh, chít khăn hỏa hoàng (9).

Những cặp màu của y phục, như điều lục, xanh và hỏa hoàng, xanh sẩm và cổ đồng, lục và da lang, lát gừng và bông bèo v.v…, đều là những hợp sắc tương phản và chính xác. Chúng vừa đẹp lại vừa thể hiện được nội dung phù hợp với thời bấy giờ, tùy theo mỗi lứa tuổi và còn thích hợp với nam tính hay nữ tính:

- Màu đỏ gây ấn tượng mạnh và vui nên trong những bữa tiệc thọ, tiệc cưới tiệc khao… màu nầy không thể thiếu được trên những quà chúc mừng và còn giữ vai trò chủ yếu để trang hoàng bên trong và bên ngoài nơi tổ chức lễ vui… Do đó, con cháu may sắm sắc đỏ là nhằm chúc các cụ sức khỏe, sống lâu và sống hạnh phúc trong tuổi già.

- Đàn ông, con trai thuở ấy thừa biết rằng, theo một số sách vở thì xanh là màu thuộc âm, song vẫn chọn sắc nầy làm áo cho mình. Bởi vì, họ dựa vào sự rung động trung thực trước một màu nào đó qua tình cảm mang tính tư duy nghệ thuật. Họ so sánh giữa các màu nên nhận thấy: tuy đỏ là màu có cường độ mạnh, có chất “dương tính” song trông quá rực rỡ nên thiếu sự khiêm tốn, nhã nhặn của người con trai hay đàn ông trẻ tuổi. Còn màu cam, màu vàng thì rất sáng chói. Và những màu đọt chuối, lá cam, hoa cà, tím Huế thì thật dịu dàng nên dành cho phụ nữ.

Do đó, chỉ có xanh là màu thích hợp nhất đối với họ. Người đàn ông đứng tuổi thường dùng màu xanh nguyên sắc. Tuổi càng trẻ, màu nầy càng sẫm xuống để làm đậm đà chất “nam tính”.

- Giới phụ nữ thường có thị hiếu dùng những sắc tươi thắm. Các bà cụ dù không thoát khỏi sự ưa thích vừa nói song lại tìm những màu thiên về sắc lục trông thật mát mẻ, êm dịu như thảm cỏ mùa xuân.

- Các cô gái và đàn bà còn trẻ thường mến những sắc áo trong sáng, non nẻo. Nói cách khác, là dùng những hợp sắc tương phản có độ “cao vút”, “lanh lảnh” và điều tiết “độ nhân” thật nhẹ nhàng…

Nói tóm lại, trong những sắc áo vừa nói, thể hiện một số nét đặc thù như sau, có liên hệ đến quan niệm và thị hiếu màu sắc của người Huế thuở trước:

- Màu sắc của y phục Huế có sự tác động qua lại giữa nó và màu sắc nghệ thuật như đã trình bày ở phần trước. Vì vậy trong áo quần thường xuất hiện những hợp sắc tương phản trông thật xinh đẹp và lộng lẫy. Tuy vậy, bởi đặc trưng của mỗi loại hình nên màu sắc của y trang thường trình bày khá đơn giản. Còn màu sắc của nghệ thuật thêu thùa hay pháp lam Huế… có dạng phức tạp và biến dị vô cùng.

- Về ý thức chọn lựa những sắc áo, người Huế biết gạn lọc những gì là tinh hoa trong sách vở để vận dụng cho phù hợp với tình cảm thẩm mỹ của mình.

Bởi thế, đàn ông con trai thì dùng xanh và đen là những sắc thuộc âm. Ngược lại, đàn bà con gái thì chọn trắng là sắc thuộc dương để may quần áo thường dùng.

Đã có lần, tôi đem điều mâu thuẫn vừa nói để hỏi thì một cụ nổi tiếng là thâm nho giải thích: “Đen trắng là những sắc biểu tượng cho âm dương, là điều không ai chối cãi. Song ta phải biết áp dụng hay vận dụng đúng chỗ, đúng lúc, chứ không nên câu chấp hình thức của sách vở mà áp đặt bừa bãi…”

Có lẽ nhờ quan niệm phóng khoáng như vậy nên người Huế thời trước đã không khai thác đen trắng và màu sắc trên cơ sở thuần lý, thuần cảm tính hay thuần ước lệ…

Đối với chiếc áo thường dùng trong việc giao tế hàng ngày, người đàn ông con trai Huế vẫn kế thừa sắc đen truyền thống của người xưa. Bởi vì sắc ấy có độ đậm nhất nên tạo ấn tượng trang nhã, phân minh của nam tính.

Riêng về giới nữ tại Huế, đã lựa chọn cho áo quần bình thường của mình một sắc mới, đó là trắng, là vì trắng có độ sáng trong trẻo, nhẹ nhàng làm ta liên tưởng đến sự tinh khiết, trong trắng của người phụ nữ Huế.

Sau hết, những sắc áo Huế thời ấy còn có thêm điểm đáng kể là không hướng đến vẻ đẹp “trống rỗng”. Cứ mỗi tà áo màu thường chứa đựng một nội dung phong phú, phù hợp với quan niệm, với thị hiếu màu sắc dành cho từng lứa tuổi, hoặc từng thuộc tính nam hay nữ. Nhờ đó, ta có thể rút ra trong ấy những điều như sau:

- Đối với đàn ông, tuổi càng già càng thích những màu mạnh, rực rỡ hoặc đậm đà. Tuổi càng trẻ, càng chọn những màu thật sẫm, hầu thể hiện sự nhã nhặn, khiêm tốn của “phái” nam.

- Đối với giới nữ, các bà càng lớn tuổi, càng thích những sắc thật thắm nhưng trông dễ chịu, mát mắt. Tuổi càng trẻ càng ưa những màu dịu dàng, tươi và sáng.

Tôi nghe các cụ kể lại và những sắc áo thời trước nữa thì so ra có sự đổi mới (10), song luôn luôn có sự góp mặt của nội dung. Theo đó, sự đổi thay này không phải là cái si mê, nhắm mắt đuổi theo cái mốt của thời trang mà đôi khi có thể đem lại vẻ lố lăng hay xấu xí. Lý do đem lại sự đổi mới trong màu sắc y phục Huế là bởi vì có sự cầu tiến, có sự nâng cao về mỹ cảm của quần chúng.

P.Đ.T
(2/8-83)


-------

1. Năm 1981, Viện Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh (tại Thảo cầm viên) có trưng bày “Y phục vua quan thời Nguyễn”. Trong những đồ thêu ấy, trình bày những hợp sắc tương phản chính xác và phương thức “hòa trộn trong thị giác”.. gần giống như trong pháp lam Huế.
2. Xin xem: Quanh pháp lam Huế, suy nghĩ về màu sắc. Bài của P.Đ.T đăng trong tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật - số 3, năm 1982.
3. Những cặp màu tương phản trong “dĩa khoa học” có liên hệ đến sinh lý thị giác nên trông vừa hấp dẫn, lộng lẫy vừa hài hòa.
4. Một loại áo cụt có tà dài đến giữa đùi, tay dài, cổ cao, vị trí gài nút nằm ở giữa kể từ sống áo đến nách áo.
5. Màu xanh lục và lạt.
6. Cổ đồng: màu vàng sẫm giống như đồng cũ.
7. Da lang: màu đỏ tím như vỏ khoai lang.
8. Điều là đỏ, lục là màu lục xanh.
9. Hỏa hoàng: màu vàng cam giống như màu lửa vàng.
10. Khăn đóng đen thay khăn chít màu huyền vì hợp với kiểu tóc “cúp” ngắn và dễ dùng giống như đội mũ. Hoặc vì ngày trước, chưa dùng áo ấm, áo len nên phải mặc áo cặp ba. Do đó, màu sắc cũng trình bày khác: lá cam, hồ thủy và đỏ là tiền thân của cặp màu lục điều…









Đọc thêm!
Người phụ nữ con cô của Hoàng thái hậu Từ Dũ nhận làm “vợ nhỏ” một lãnh tụ nghĩa quân để hành động yêu nước

Tạp chí Sông Hương - Số 275 (tháng 1)

Người phụ nữ con cô của Hoàng thái hậu Từ Dũ nhận làm “vợ nhỏ” một lãnh tụ nghĩa quân để hành động yêu nước

15:22
14/01/2012
NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Trước và sau ngày Việt Nam độc lập thống nhất (1975), tôi rất thích bài hát “Người mẹ Bàn Cờ” của Trần Long Ẩn trong Phong trào Đấu tranh đô thị miền Nam.

Lăng mộ bà Trần Thị Sanh toàn bằng đá hoa cương tại Khu phố 2, P.5, Gò Công. Ảnh NĐX

Có người mẹ Bàn Cờ tay gầy tóc bạc phơ chuyền cơm qua vách cấm khi ngoài trời đổ mưa. Có người chị bàn cờ lính ngồi gác đầy sân nhận sinh viên làm chồng rồi đưa về đầu đường, có người em bàn cờ tảo tần đưa tin thơ, đưa anh về cuối lối và nhìn theo bơ vơ.”

Tôi và nhiều người bạn tôi đã được “nhận” và “đưa” nhiều lần như thế. Nếu không được sự giúp đỡ, che chở của phụ nữ, chúng tôi không thể nào hoạt động yêu nước ở đô thị được. Chúng tôi kính phục, biết ơn họ. Mang sẵn trong lòng sự kính phục phụ nữ ấy nên tôi vô cùng xúc động khi tìm được tài liệu lưu trữ của Pháp cách đây gần 150 năm liên quan đến một người phụ nữ ở Gò Công tên là Trần Thị Sanh đã nhận làm “vợ nhỏ” Trương Định để giúp nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Tôi biết được sự kiện ấy qua tờ đơn viết tay của bà Trần Thị Sanh đề ngày 2-3-1874 gởi cho Chánh Tham biện hạt Gò Công. Tờ đơn đứng tên “vợ nhỏ” của lãnh tụ nghĩa quân Trương Định đã tuẫn tiết. Xin tu sửa cái “mả” cho chồng, nguyên văn như sau:

Chép lại nguyên văn:

“Tân hòa huyện.
Hòa lạc Tổng. Thuận Ngãi thôn.
Trần Thị Sanh

Cúi đầu lạy quan lớn cho phép tôi làm cái mả lại cho ông quản Định năm Kỷ Dậu (tức 1859) tôi có làm vợ nhỏ ổng hai năm, bây giờ vợ lớn ổng trốn biệt, con chết hết, mấy năm nay tôi cũng sợ phép nhà nước không biết làm sao bây giờ tôi liều mình, tới nói với ông xin ông giúp cho tôi.

Trần Thị Sanh Điểm chỉ. Le 2 Mars 1874 (tức ngày 2-3-1874)(1).

(Phần chữ Pháp bên trái phía dưới tờ đơn là bản dịch tờ đơn của bà Sanh).



Cái tài liệu đầu tay này có một sức hút lạ kỳ đối với sự ham mê chuyện cũ của tôi. Một ngày cuối năm 2011, tôi về Gò Công để tìm hiểu sự thật lịch sử về bà Trần Thị Sanh. Biết yêu cầu của tôi, một người địa phương đã đưa tôi đến viếng lăng Hoàng Gia (nhà thờ và lăng mộ Đại thần Phạm Đăng Hưng - thân sinh của Hoàng Thái hậu Từ Dũ và là cậu ruột của bà Trần Thị Sanh), tiếp đến viếng thăm Nhà thờ bà Trần Thị Sanh, gặp gia đình ông thủ từ Dương Hữu Trí, rồi được ông Trí đưa đi thăm lăng mộ bà Trần Thị Sanh và lăng mộ bà Phạm Thị Phụng - thân mẫu của bà, tại Khu phố 2, Phường 5. Rồi chúng tôi trở về viếng đền thờ Trương Công Định (thường gọi Trương Định) ở đường Lý Thường Kiệt. Qua tiếp xúc và thăm viếng, tôi thu thập được thêm nhiều thông tin. Đối với địa phương thì những thông tin ấy không có gì mới, nhưng đối với tôi, đối với người Huế, với độc giả cả nước thì hết sức hấp dẫn.

Vậy thì Trần Thị Sanh là ai?

Theo bia mộ do “hiếu tử Dương Thị Hương”, lập năm Giáp Tuất (1934), bà Trần Thị Sanh sinh ngày 7-1-1820 và mất 21-12-1882, con gái thứ sáu của Bá hộ Trần Văn Đổ và Phạm Thị Phụng (1782-1875). Bà Phụng là em gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng - thân sinh của bà Phạm Thị Hằng (Hoàng Thái hậu Từ Dũ). Tức bà Trần Thị Sanh là em con cô cậu ruột với Hoàng Thái hậu Từ Dũ - thân mẫu của vua Tự Đức.

Lúc nhỏ, mẹ mất sớm, cha ra Huế làm quan, Phạm Thị Hằng ở với cô Phạm Thị Phụng, được cô nuôi dạy nữ công nữ hạnh, cho đi học chữ Hán với dượng Trần Văn Đổ. Nhiều lần chị Phạm Thị Hằng ẵm bồng em Trần Thị Sanh nhỏ hơn mình mười tuổi. Năm 14 tuổi, Phạm Thị Hằng xa gia đình cô Phụng ở Gò Công để ra Huế và được tiến cung, sau trở thành Giai phi của vua Thiệu Trị. Năm 19 tuổi, Trần Thị Sanh được cha mẹ cho thành hôn với Bá hộ Dương Tấn Bốn. Hai vợ chồng được hưởng của hồi môn của hai gia đình, lại thuộc gia đình “ngoại thích” của Hoàng gia, có thế lực, buôn bán lúa gạo, khai khẩn nhiều ruộng đất, giao thương với cả các nước trong vùng, nổi tiếng giàu nhất Gò Công. Năm 1860, ông Dương Tấn Bốn qua đời, để lại cho bà Sanh một gia sản lớn cùng với người con gái là Dương Thị Hương sinh năm 1844.

Biết được tiểu sử của bà Sanh như vậy, tôi càng ngạc nhiên hơn. Vì lý do gì mà một góa phụ mới 40 tuổi, giàu có nhất Gò Công, em con cô của Hoàng Thái hậu Từ Dũ - thân mẫu của đương kim Hoàng đế Tự Đức lại đi làm “vợ nhỏ” của một lãnh tụ kháng chiến đang bị giặc Pháp và tay sai rình rập săn bắt ngày đêm như thế?

Trong tờ đơn gởi cho Pháp bà Sanh viết “năm Kỷ Dậu tôi có làm vợ nhỏ ổng (tức Trương Định) hai năm”. Tức là bà nhận làm “vợ nhỏ” Trương Định từ năm 1859 (Kỷ dậu) đến năm 1861. Nhưng sự thực thì năm 1859 ông chồng bà là Dương Tấn Bốn còn sống, làm sao phu nhân một đại gia như thế có thể cùng lúc đi làm “vợ nhỏ” một người khác được? Vì sao bà lại không tự nhận làm vợ nhỏ Trương Định từ sau năm chồng bà qua đời (tức là từ 1861 trở đi)?

Phải có tài liệu lịch sử và phải đến tận nơi Gò Công mới có thể hiểu được sự kiện lịch sử lạ lùng nầy.

Như lịch sử đã viết, năm 1862 triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) với Pháp, tất cả những hoạt động vũ trang chống Pháp ở Nam bộ phải rút ra miền Trung. Trương Định không thực hiện Hòa ước, vẫn tiếp tục chiến đấu chống Pháp ở Gò Công. Cho nên từ năm 1862, người đứng đầu nghĩa quân Trương Định trở thành - nói như ngôn ngữ ngày nay - “bất hợp pháp”. Bà Sanh nhận làm vợ nhỏ của Trương Định từ năm 1859 đến 1861 để chứng tỏ cho Pháp biết bà không có quan hệ gì với Trương Định “bất hợp pháp”, có nghĩa bà không có quan hệ gì đến việc Trương Định chống Pháp. Có như thế bà mới được Pháp chấp thuận cho bà “sửa mả” cho Trương Định.

Qua tư liệu lịch sử đã sưu tầm được, sau khi ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), trên mặt đối ngoại thì triều Nguyễn ra lệnh cho Trương Định phải ra miền Trung, nhưng trong bí mật vua Tự Đức vẫn chủ trương để Trương Định bám trụ tại Gò Công và nhà vua tìm cách hỗ trợ cho Trương Định tiếp tục chiến đấu. Xin dẫn hai tư liệu:

Tư liệu 1: Để thỏa mãn những đòi hỏi của Pháp (theo điều 11 của Hòa ước Nhâm Tuất), Phan Thanh Giản yêu cầu vua Tự Đức phải hạ dụ cho Trương Định phải ngưng chiến và rút khỏi miền Nam, vua Tự Đức đã phê bình cụ Phan với triều đình một cách gay gắt rằng:

- […] “Lòng người như thế, cũng là một sự giúp cho cuộc mưu tính lấy lại, há lẽ nào cứ răn dụ lặc vặc mãi”(2).

Tài liệu 2: Đêm 19 rạng ngày 20-8-1864, mật khu Đám Lá Tối Trời bị tấn công, Trương Định tuẫn tiết, bọn Pháp lấy được nhiều tài liệu có liên quan đến công cuộc kháng chiến của Trương Định. Trong cuốn Địa chí tỉnh Gò Công (Monographie de la Province de Gò Công, 1936), người đứng đầu tỉnh Grimald viết: “Các giấy tờ có ghi chép nhiều điều lý thú, tên tuổi của những kẻ tòng phạm và nhất là sự giao thiệp mua bán lương thực của một nhà buôn ở Phan Rí tỉnh Bình Thuận. Rõ ràng hơn cả là có sự tòng phạm của triều đình Huế” (NĐX nhấn mạnh).

Triều đình Huế lúc đó là ai? Không ai khác hơn là bà Trần Thị Sanh - em con cô của Thái hậu Từ Dũ, dì của vua Tự Đức. Vì thế, nếu bà Trần Thị Sanh khai là “vợ nhỏ” của Trương Định sau thời điểm 1861 thì bà không thể giấu được “tội” “tòng phạm” với Trương Định. Chúng ta chưa tìm được tài liệu cho biết triều đình Huế đã giúp gì cho Trương Định, nhưng sau khi Trương Định qua đời, bà Trần Thị Sanh đã bí mật lo chôn cất, xây lăng, đắp mộ cho Trương Định trước sự theo dõi gắt gao của bọn quan thầy thực dân Pháp và tay sai Việt gian cũng đủ thấy triều đình Huế không bỏ Trương Định.

Nhưng vì sao cho đến năm 1874, bà Trần Thị Sanh mới chính thức viết đơn xin “sửa mả” cho Trương Định với tư cách là “vợ nhỏ” của Trương Định? Để trả lời cho câu hỏi này, hãy đọc tờ trình của bọn Pháp ở Gò Công trình bày với cấp trên những lý lẽ mà chúng đã căn cứ để chấp thuận lá đơn của bà Trần Thị Sanh sau đây:


“Gò Công, ngày 2 tháng 8 năm 1874,
Kính gởi Giám đốc,

Quả phụ của Quản Định viết đơn và cầu xin được phép làm ngôi mộ cho chồng vốn đã chết, như mọi người đều biết, vào năm 1864, giữa khi cầm khí giới chống trả chúng ta.

Trước đây không thể cho phép như thế này vì sẽ gây ra rắc rối giữa các phe của quận huyện nhưng nay ai nấy đã quên hẳn Quản Định, chính thất của y không trở về lại đây, con cái chết hết.

Tôi trân trọng chuyển đến Giám đốc đơn xin của bà Trần Thị Sanh kèm theo ý kiến chấp thuận vì tôi không thấy trở ngại gì trong việc xây mộ cho Quản Định vốn xưa nay dũng cảm chống trả chúng ta và tôi thiết tưởng sẽ có hại hơn là có lợi nếu để cho dân chúng tưởng rằng chúng ta vẫn còn sợ hình ảnh và ảnh hưởng của người chỉ huy nổi tiếng ấy.

Kính chào Giám đốc. Thuộc hạ tận tụy của Ngài. Ký tên Esmile Pirech (Tham biện Gò Công). Kính gởi Giám đốc Sở Nội vụ.(3)

Qua tờ trình ta thấy bọn Pháp rất sợ Trương Định nhưng đến năm 1874 theo chúng thì ảnh hưởng của Trương Định trong dân chúng đã hết: “Trước đây không thể cho phép như thế này vì sẽ gây ra rắc rối giữa các phe của quận huyện nhưng nay ai nấy đã quên hẳn Quản Định, chính thất của y không trở về lại đây, con cái chết hết”. (Bản dịch của Bửu Ý).

Cũng như bà Trần Thị Sanh phản ảnh:“bây giờ vợ lớn ổng trốn biệt, con chết hết”. Nghĩa là thực dân Pháp đã bình định xong ảnh hưởng chống Pháp của nghĩa quân Trương Định. Về cục bộ là như thế, về tình hình chung thì thực dân Pháp được thuận lợi hơn nhiều. Chẳng bao ngày sau cái đơn của bà Trần Thị Sanh gởi cho Pháp, ngày 15-3-1874, triều đình Huế ký Hòa ước Giáp Tuất công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ. Như vậy triều đình Huế không còn một chút gì ảnh hưởng ở Nam Kỳ nói chung và Gò Công quê hương của bà Từ Dũ nói riêng nữa.

Qua lịch sử triều Nguyễn ta thấy giặc đến thì đánh, đánh không thắng thì hòa, không hòa được mới chịu thua. Khi thua thì phải giữ thế nào để ít bị thiệt hại nhất. Theo khẩu khí của vua Tự Đức phê phán cụ Phan Thanh Giản khi cụ Phan đòi vua hạ dụ rút Trương Định ra khỏi Nam Kỳ dẫn trên, ta có thể nghĩ - dù phải giao cho Pháp đất Nam Kỳ - mẹ con bà Từ Dũ và vua Tự Đức cũng đã làm một việc gì đó trong khả năng của mình để “giúp cho cuộc mưu tính lấy lại” Nam Kỳ sau này. Phải chăng việc đó là: bà Từ Dũ đã nhờ người em con cô mà bà đã từng bồng bế là Trần Thị Sanh “hạ giá” làm “vợ nhỏ” Trương Định để được phép xây mộ dựng bia cho Trương Định - treo một tấm gương yêu nước trên đất thuộc địa của Pháp? Nếu đúng thế thì bà Trần Thị Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Bởi vì, suốt thời kỳ thuộc Pháp cho đến ngày Việt Nam độc lập, thống nhất tấm gương yêu nước của Trương Định luôn luôn sáng chói trong lòng dân Việt.

Vai trò của bà Trần Thị Sanh đối với nghĩa quân Trương Định ngày xưa đã được phát huy mạnh mẽ bởi các mẹ, các chị, các em ở Bàn Cờ cũng như ở các đô thị miền Nam thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước vừa qua.

Huế, Tháng 12-2011
N.Đ.X
(SH275/1-12)

-----

1. Cục lưu trữ Trung ương II (TP HCM), Ký hiệu E.02-93 TĐBCCPNV
2. Đại Nam Thực lục, bản dịch NXB Giáo Dục, 2006, Tập Bảy, tr. 797
3. Như (1)


http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c255/n9678/Nguoi-phu-nu-con-co-cua-Hoang-thai-hau-Tu-Du-nhan-lam-vo-nho-mot-lanh-tu-nghia-quan-de-hanh-dong-yeu-nuoc.html








Đọc thêm!
Tư liệu về thi sĩ Chiêu Đăng
OKLAHOMA, HOA-TIÊN & TÔI

Mùa hè năm 1997, sau khi di chuyển tới làm việc ở Oklahoma City ít lâu, qua đường bưu điện, tôi nhận được tập giai phẩm mỏng, bìa mầu vàng nhạt ghi số 1, gửi gấm tâm tình của thi đàn Hoa-Tiên Thanh-Khí do bốn vị sáng lập viết và gửi tặng. Đó là Chiêu-Đăng, Tếu-Tử, Nam-Hà và Hoài-Việt.
Sách in với kỹ thuật thủ công, gia đình, computer, đóng tập bằng staple dản dị, tiết kiệm, tuy không dầy nhưng dùng khổ chữ nhỏ nên nội dung rất phong phú, đủ mọi thể loại. Nào là hát nói của Hoài-Việt (Duyên Mạc Bút.), nào là kịch thơ của Chiêu-Đăng (Tôi làm thơ.), tiểu luận của Tếu-Tử (Giai thoại văn chương, chữ nôm...) cùng phần lớn là những bài thơ Đường luật xướng họa của bốn vị sáng lập kể trên. Tổng quát, đây là một giai phẩm có chất lượng, hữu ích, lành mạnh..
Trước khi kể lể, tâm tình, để độc giả khỏi bỡ ngỡ, chẳng biêt có nên giới thiệu đôi dòng nói chung về sự hình thành, hoạt động cùng mục đích của các thi văn đàn hay không. Tôi thấy không cần. Cũng như các hội tương tế, ái hữu, đồng hương, cựu học sinh, cựu quân nhân... tụ họp, ra báo... bây giờ nhiều vô cùng, thi văn đàn cũng vậy, chẳng ai lạ gì, ai cũng hiểu tấc lòng hăng say cao đẹp, ai cũng biết những mục đích cao quý, nhưng đôi khi ai cũng rõ là... "lực bất tòng tâm." Cố gắng một chặp, trước những khó khăn, nhiều thi văn đàn, nhất là của giới trẻ, rồi cũng tàn lụi âm thầm, không kèn không trống. Có lẽ chỉ một hai tổ chức rất cũ còn để lại kết quả, tiếng vang... đó là Thi đàn Nhị Thập Bát Tú, Tự Lực văn đoàn v...v...
Lúc đầu tôi mới chỉ hân hạnh biết Phạm-Đăng-Chiêu bút hiệu Chiêu-Đăng một người khoảng bẩy chục, gầy, cao, nhã nhặn, ít nói, giòng giõi đại thần Phạm-Đăng-Hưng và bà Từ-Dũ, gốc Gò-Công, cũng làm thơ... qua buổi thi kể chuyện cho trẻ em nhân dịp tết Trung-Thu do trung tâm VAALA tổ chức tại trụ sở hội Việt-Mỹ.
Vào một dịp gặp gỡ khác sau đó, tôi nhớ, có cám ơn cụ Chiêu Đăng và hỏi han thêm về việc này. Nhân tiện cụ nói đại khái hôm nào rảnh, hẹn với mấy người hàn huyên cho vui, cũng là chỗ anh em lớn tuổi cả.
Thế là sau cuốn số 1 nhiều người khuyến khích, cổ võ, đón chào nồng nhiệt nên cuốn số 2 thừa thắng xông lên trình làng cách đó khoảng bốn tháng và ta thấy có thêm những cây viết mới. Tôi cũng bắt đầu tham gia cùng một vài người khác và đặc biệt với sự hiện diện của một bậc nữ lưu từ Sa-Đéc Việt-Nam.

Tôi sống tận nơi miền thôn dã,
Chốn quê nghèo bương bả triền miên
Thanh-Ngọc kính chúc Hoa-Tiên
An-khang, thịnh vượng bình yên trọn lành
.
Thanh-Ngọc
Đầu năm 1998, sang cuốn thứ 3 thi đàn lại hân hạnh giới thiệu thêm thơ của một vài người mới nữa và cứ thế cho đến nay, năm 2007 qua thi văn phẩm Hoa-Tiên số 21 "Xuân Đinh Hợi" thì con số các vị tham dự xếp hàng dễ được hơn trung đội, "quân số" có lẽ còn qua mặt cả quý vị tiền bối Nhị Thập Bát Tú, mà người trẻ nhất hình như là một cô bé còn đang cắp sách tới trường và cao niên hơn cả có lẽ là cụ Đào-Nguyên năm ngoái vừa làm bài thơ kỷ niệm cùng hiền thê được 80 tuổi nhan đề Song Thọ Bát Tuần Tự Thuật:

Song thọ Giáp Thân ngã bát tuần,
Đồng canh đồng tịch kính như tân
.

Từ ngày mới thành lập, thi đàn luôn luôn được sự yểm trợ cả tinh thần lẫn vật chất bởi các vị cảm tình viên địa phương mà vì khuôn khổ bài viết không cho phép kể hết, xin lỗi quý vị, tôi chỉ nêu tên một hai người làm thí dụ, đó là nhà báo lão thành Nguyễn-Trọng, cây viết thường xuyên trên Văn Nghệ Tiền Phong; Anh Tiêu-Ngọc-Ninh, thuộc nhóm cựu Quốc-Gia Hành-Chánh, Anh hội trưởng hội thể thao Sao-Việt Phạm-Hữu-Quang mà chị Quang, cựu nữ sinh Trưng-Vương Phạm thị Thanh với tiện nội là bạn đồng môn hàng năm thỉnh thoảng vẫn thường gặp nhau đâu đó trong những kỳ đại hội Trưng-Vương hải ngoại.
Giữa vùng cao nguyên đất đỏ, xa bờ bể, mùa đông thì lạnh run cầm cập, mùa hè thì nóng cháy da cháy thịt. Khoảng tháng 3 tháng 4 "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi" lại phong ba bão táp xập cửa đổ nhà chết người dễ như chơi, chẳng có nhiều mục du hý nên hồi đó mỗi lần phát hành đặc san các thành viên vui mừng tụ họp, khi thì ở tư gia các hội viên, khi thì ngoài tiệm ăn Tầu với đông đủ tao nhân mặc khách trong giới văn nghệ văn gừng. Nhà báo Công Tằng Tôn Nữ Phương Anh, mấy nhạc sỹ và ca sỹ địa phương. Đôi khi có cả giáo sư Lê Hữu Mục, văn thi sỹ Hà Thượng Nhân, khoảng trên dưới trăm người để người nọ ngâm thơ của người kia, trình bầy những bài thơ do các nhạc sỹ trong nhóm phổ nhạc, cây nhà lá vườn, thật hào hứng đó là chưa kể các mục chuyện vui, chuyện cổ nhiều khi tạo nên bầu không khí thật là sôi nổi.
Ngoài ra lúc rảnh các cây viết địa phương cũng hay rủ rê tụ họp ở một quán phở nào đó góc 23rd Street bàn bạc công việc, khoe nhau những sáng tác mới, ăn uống thì theo kiểu you ask you pay, cũng tiện. Người khẳng kheo gió Oklahoma thổi đi không vững, gọi tô nhỏ, uống nước trà nóng cho ấm bụng, trả ít. Kẻ "Râu hầm hàm én mày ngài " kêu xe lửa, cà phê sữa đá, chi nhiều, nhân tâm tùy mạng mỡ, thoải mái.
Thật là phấn khởi, thi phẩm Hoa-Tiên Thanh-Khí số bẩy phát hành hồi tháng 6 năm 1999 với kỹ thuật tài lực hạn hẹp mà chúng ta còn có hình ảnh mầu, ngoài chân dung và tiểu sử đầy đủ hội viên, thêm cả cảnh sinh hoạt quần áo trịnh trọng, người cười người nói ly chén ngổn ngang. Có phải chăng đó cũng là một điểm son xin ghi lại cho "ban biên tập" lúc bấy giờ.
Cứ như thế, đến khoảng tháng 8 năm 2001, Hoa-Tiên Thanh Khí phát hành được tới ấn phẩm thứ 12, vẫn theo lối thủ công tự lực tự cường thì bị khựng lại mất hơn một năm lý do vì một vị giúp phụ trách việc in ấn đã di chuyển gia đình sang tiểu bang xa, bận rộn không đa mang được nữa và mặt khác mấy ông già còn lại thì chỉ rành luật lệ thơ Đường, xướng họa chứ kỹ thuật computer, ấn loát rất khờ khạo, chả biết gì, lại chưa có ai gánh vác thay thế làm cho bè bạn, độc giả, những người lưu tâm tha thiết, mỗi lần có dịp liên hệ gặp gỡ nhau đều sực nhớ, thăm hỏi, ngậm ngùi, nuối tiếc... Biết làm sao hơn được! Có hợp phải có tan, có sinh phải có hóa... Kiếp người, tình yêu, hội thơ thì cũng nằm chung một định luật vậy thôi!
Tuy việc in ấn đặc san bị ngưng trệ nhưng các sinh hoạt của thi đàn, hay nói đúng hơn, sinh hoạt của cá nhân trong thi đàn thì vẫn còn, ngoài chuyện hò hẹn nhau ở tiệm phở, Chiêu Đăng vẫn có thơ văn trên một nguyệt san ở Houston Tx. (Phải chăng vì vậy mà ta thấy thơ Chiêu-Đăng đã được in trong tác phẩm Dòng Mực Tha Hương của Lê Bá Kông.); Trúc-Lang một nhà thơ kỳ cựu, đã xuất bản nhiều tập thơ mà cuốn đầu tay Mộng-Lành in từ 1954, tiếp tục viết thơ tình cho OKC Việt-Báo, tôi thì vẫn hiện diện lai rai trên Hồn - Việt, nguyệt san Thế-Giới Ngày Nay, còn Xuân Bích thì vừa trình làng cuốn tiểu thuyết Chuyện Tình Chưa Kể Hết. Chuyện tình, dù chỉ của một người, làm sao kể hết!
Khách quan mà nói, sự sống chết của một hội thơ địa phương nào có chi quan trọng. Nhất là khi nó chưa tạo được một hình ảnh rộng lớn, nhất là thời buổi văn hóa, quê hương, đang bị lấn áp trước nhiều sự việc văn minh hấp dẫn hiện đại.
Người Việt-Nam ta ở Oklahoma khá đông, hội nhập nhanh, tinh thần rất phấn khởi, hội đoàn hoạt động tích cực. Tôi tới đây mới khám phá ra rằng mình có đủ điều kiện để gia nhập nhiều tổ chức khác nữa như: Hội ái hữu Thuỷ-Quân-Lục-Chiến vì tôi nguyên là lính TQLC (Khổ lắm biết rồi! Nói mãi!) Tôi còn có thể vào hội Cựu quân Nhân, hội thơ, hội Cao Niên, hội Cửu Long... nhưng không thể gia nhập hội cựu Sinh Viên Đà-Lạt, hội Cựu Quốc-Gia Hành Chánh v...v...
May mắn thay, một ngày đẹp trời năm 2003, có người nguyên là lính Mũ Đỏ, từng coi thường câu hát của trẻ con đầu xóm "Anh Hai ơi, đừng đi lính nhẩy dù..." trước đây đánh giặc rất hăng mà nay làm thơ cũng... hăng, đã giới thiệu hai bạn thơ rất trẻ, một người ở Tx và một kẻ ở Mn, là những cây viết tràn đầy tâm huyết, nhiều khả năng đã giúp Hoa-Tiên Thanh Khí chẳng những sống lại mà về hình thức còn chững chạc hơn trước, kỹ thuật hình vẽ sáng sủa mới mẻ hơn trước, không thua kém tất cả các loại sách vở đang lưu hành là bao nhiêu.
Tới thời điểm này, sau mấy năm tích cực hoạt động, trong phạm vi thành phố cũng phải công nhận rằng thi đàn đã là một thực thể ở địa phương OKC như nhiều hội đoàn khác, điều này phát sinh ra nhu cầu, chúng ta cần một đại diện trong những dịp tổ chức cộng đồng như kỷ niệm 30 tháng 4, tham dự đám tang, tết Nguyên Đán v...v...do đó Tếu Tử, một vị cao niên uyên thâm nho học, lúc nào cũng gọi tôi là tiên sinh, sau khi được toàn thể anh em đề nghị, đã xung phong lãnh nhiệm vụ thi đàn trưởng. Thi đàn trưởng để làm việc thôi chứ quyền lợi cũng chẳng có gì... lợi, mà ngược lại. Thí dụ đôi khi ai tới thăm thi đàn, (hình như thi sĩ Ngô-Minh-Hằng đã tới một lần), thi đàn trưởng hô hoán anh em ra tiệm phở, hội ngộ, nói chuyện thơ văn, thì cứ theo đúng tinh thần huynh đệ chi binh, ông là người có chức, ông cứ việc "pẩy xu " chả kẻ nào thắc mắc.
Dịp này Hoa-Tiên Thanh Khí cũng có một quyết định liên quan đến vấn đề kinh tế, thay vì niên liễm là 20 đồng nay được định lại là 20 USD cho phí tổn mỗi kỳ phát hành, và nghe đâu kể từ số 18, thông qua trong một kỳ họp ở tiệm phở Cường, giá biểu lại thay đổi lên 25 USD, không có ai thắc mắc, muỗi đốt gỗ, nhằm nhò gì, gạo châu củi quế, giá dầu xăng từ 7 hoặc 8 chục cents bây giờ lên hơn 3 đồng thì cái ý kiến đề nghị như thế là hợp lý, chẳng đáng quan tâm. Thời buổi này kiếm tiền là rất khó và tiêu tiền lại là vấn đề khó hơn, nhưng đóng góp chút tịnh tái với mục đích phổ biến văn hóa cao đẹp thì đâu có dại, thật đúng như Tản-Đà đã nói:

Khôn nơi cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn
.

Muốn có văn thơ in trên đặc san thì phải đóng góp chứ, đó là chưa kể lúc có sách lại phải ký tên, gói ghém gửi bưu điện tặng bạn bè hãnh diện mời đọc chơi cho vui để nhiều khi bạn bè chẳng thèm nói lại một câu, thật phũ phàng, trường hợp tôi, có lần còn bị gọi điện thoại hỏi nửa đùa nửa thực "Ông mà cũng làm thơ à?" Cái chuyện viết văn, làm thơ bây giờ thì nó lạ như thế đấy.
Không biết tôi có nên kể một kỷ niệm khó quên nữa, là, đứa cháu ngoại nó chẳng biết như vậy. Nó cứ ngạc nhiên hỏi tôi hoài một câu vô cùng hóc búa: "Oong ngại ơi, oong ngại à, mình cắt cỏ cho neighbor nó cho mình tiền mà oong ngại viết poems để vào sách sao lại không có? Why?
Có điều cũng xin trình bầy tiếp theo là nhân dịp kể từ bộ mới (số 14) toàn thể hội viên đã đồng ý thống nhất chỉ dùng danh xưng HOA-TIÊN biểu hiệu cho thi đàn vì tên cũ dù là rất đầy đủ ý nghĩa nhưng hơi dài, hơi tồn cổ có thể khiến cho các bạn trẻ vừa nghe đã "kính nhi viễn tri." Chẳng muốn tham dự, không có lợi cho sự mở rộng.
Nhưng đạt được mục đích mở rộng, bây giờ thi đàn lại có nhiều khuynh hướng đứng chung với nhau, và việc nhận diện "thi hữu" trở nên khó khăn vì mỗi người ở một phương trời, chẳng biết bao giờ mới thực hiện được một buổi họp mặt đông đủ như cô giáo Kim-Hương đã bầy tỏ niềm ao ước nhân tiện gửi bạn hữu bài thơ nói về chiếc áo dài mới đây trên net, mặc dù ai ai vẫn thường xuyên thăm hỏi, giao thiệp, thư từ, xướng họa.
Đến đây, sẩy ra một tin buồn xin ghi lại cho đầy đủ, thi sĩ Chiêu Đăng một trong số các sáng lập viên đã từ trần ngày 13 tháng 12 năm 2004 thọ 80 tuổi để cho nhiều bạn hữu thương tiếc với hơn 20 bài thơ vĩnh biệt luyến lưu in trong tập HT 17 và đặc biệt đôi câu đối của bạn đồng tuế, cụ Đào-Nguyên, ở Virginia:

Nhớ cụ hảo tâm về nước chúa
Thương người tài đức biệt Hoa-Tiên
.

Thời buổi bây giờ tân tiến, mọi sự tiện lợi, dù xa xôi cách trở, chẳng thấy mặt nhau vẫn cùng một hội, một thuyền không có gì trục trặc. Tiền in báo thu gom về OKC, bài vở e-mail xuống TX để layout, người phụ trách sửa chính tả một thời là tôi thì nằm tại VA và cuối cùng, liên lạc qua lại một chập, báo sẽ phát hành gửi cho mọi nơi như Đức, Ý Đại Lợi, Canada, và lẽ dĩ nhiên ở nhiều tiểu bang Hoa-Kỳ.
Điểm qua Hoa-Tiên Thanh-Khí từ số 1 cho đến những số Hoa-Tiên sau này ta thấy gì? Khách quan phải công nhận là Đường thi, xướng họa đã từ từ đồng ý hòa hợp với những đóa hoa mới mẻ, rực rỡ, lạ lùng. Mặc dù chúng ta không cùng quan niệm là thơ Đường, xướng họa hay nói chung là thơ cũ, chỉ nhằm thù tạc, thiếu xúc động, nặng công thức, gò bó, ưa mài giũa, đãi lọc, thiếu hồn...
Mà thôi, chuyện thơ cũ, thơ mới, thơ tự do, thơ lãng mạn, không lãng mạn, mọi người đã tốn rất nhiều giấy mực từ thời sinh tiền Tản Đà, Phan-Khôi, bây giờ còn đề cập nữa e bị coi là ông già lẩm cẩm, bất thức thời vụ.
Bây giờ thời thế xoay chuyển, mà mục đích của thi đàn thì vẫn vậy thôi. Dù các vị sáng lập viên và một số đoàn viên nhiều người biết câu nói của Wilde, một nhà thơ Hoa-Kỳ "Thật may mà có thơ vần, nếu không chúng ta đều là thiên tài." Nhưng vẫn hoan hỷ đón chào những làn gió mới, trẻ trung, lãng mạn, rất lãng mạn... phải chăng đó là thái độ cao quý của các vị vừa là nhà thơ, vừa là nhà nho lại vừa là những người lớn tuổi.
Nói về mặt phẩm chất, khách quan, thì thơ văn của Hoa-Tiên cũng bình thường tuy rằng thỉnh thoảng cũng có những vần, những ý mang tính sáng tác, riêng tôi, tôi vẫn nghĩ, chúng tôi chưa ai được kể thực sự là văn thi sỹ mặc dù đang cặm cụi miệt mài làm thơ, viết văn...
Còn vấn đề phổ biến cũng chẳng khả quan bao nhiêu, mỗi kỳ phát hành hai ba trăm số, chia cho các hội viên, và chắc chắn các hội viên chỉ dùng để tặng bạn bè thân thuộc làm kỷ niệm chứ mong gì lấy được... vốn.
Sau năm 1975 những người di tản như chúng tôi được kể là thế hệ thứ nhất, lót đường. Sự hội nhập, sinh hoạt... dù khó khăn, nhỏ bé, song hy vọng về khía cạnh bảo tồn văn hóa quê hương nó đã hiện diện, nó cũng giúp ích cho sự hiểu biết của các lớp người thứ hai, thứ ba...
Sự kiện một nhóm người yêu thơ, như trên đã nói, tụ tập với nhau lập hội chẳng mới mẻ gì. Cách đây cả năm trăm năm, đã có hội thơ Tùng-Châu Thi Xã ở Bình-Định mà Đào-Duy-Từ cũng tham dự trong đó với nhiệm vụ thư-đồng. Sau này hội thơ Nhị Thập Bát Tú mà Vua Tự-Đức làm minh chủ nổi tiếng một phần cũng là nhờ bị chê bai với hai câu thơ độc đáo của Cao-Bá-Quát:

Ngán thay cái mũi vô duyên,
Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An
.

Nhìn vào Hoa-Tiên hiện thời, cũng vui một điều là số lượng càng ngày càng tăng, lâu lâu lại thấy trên Net lời chào mừng hội viên mới..."đến với thi đàn..." vô cùng hoan hỷ. Jorge Luis Borges, một nhà thơ Âu Mỹ nhận xét:" Người ta chỉ làm thơ khi còn trẻ hoặc khi đã về già." Chẳng biết có đúng vậy không, nhưng quả thực nơi thi đàn Hoa-Tiên bây giờ sự chênh lệch tuổi tác hơn kém nhau tới 50 năm! Tôi nói thế, thưa quý vị, đó là sự thật rõ ràng! Năm mươi năm chênh lệch rồi xưng hô làm sao!
- Thì cứ kêu là thi huynh hết cho tiện việc sổ sách.
- Còn nữ sĩ thì gọi là thi tỷ phải hôn?
-Xời ơi! Đọc kiếm hiệp biết rồi, khổ lắm! Hỏi mãi!

Từ đó thi huynh, thi tỷ, thi hữu, thi muội, thi đệ... đã được sử dụng triệt để, nó có vẻ hơi xưa, nghe như thời gian từ Lều Chõng của Ngô Tất Tố trở về trước, nhưng vui vui, tương kính và tuyệt nhiên không hàm ý mặc áo thụng vái nhau. Tuy nhiên những lúc cùng nhau ngồi trong tiệm phở đôi khi sự xưng hô đã làm cho người nhà hàng buồn cười... À mà sao tôi cứ hay nhắc đến phở hoài hủy vậy cà, không biết có làm phiền chư huynh đệ nào ưa hủ tíu Mỹ Tho hoặc bún bò Huế hay chăng!
Theo tôi, phở là một trong những món ăn độc đáo thuần túy Việt-Nam. Điểm tâm, ăn trưa, chiều... lúc nào cũng hợp. Các món tương tự khác, ngay như món Cô-Sèo-My-Sẻng với mỳ sợi, nước lèo, thịt cừu của các vị con trời được Nhất-Linh mô tả trong cuốn Giòng Sông Thanh Thủy cũng không bì được. Phở là số một. "Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn luôn bát thứ hai..." y như Thạch-Lam đã viết thế trong cuốn Hà-Nội Băm Sáu Phố Phường."
Chuyện Hoa-Tiên xin tạm ngưng ở đây. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm, ước mong với mục đích cao đẹp là phát huy, bảo tồn văn hóa, toàn thể nhóm Hoa-Tiên kẻ gần người xa hãy giữ vững mục đích mong sao với chút kiến thức, năng khiếu, tâm hồn, tâm sự chúng ta có thể dùng diễn đàn Hoa-Tiên để bầy tỏ, ký thác một cái gì ngõ hầu chống trỏi phần nào với thời gian không gian trước cuộc đời vô cùng yếu ớt, ngắn ngủi, nhỏ bé... và hãy cùng nhau ráng có mặt dài dài theo thời gian để còn nhiều chuyện tâm tình, kể lể về sau.
Nhìn lại Hoa-Tiên chặng đường vừa đi qua, thấm thoát vậy mà cũng mười năm (1997-2007), mười năm với người còn người mất, kẻ vào kẻ ra, sự việc ấy bình thường. Với mười năm, Hoa-Tiên vẫn chưa cất cánh, chưa vang dội xa gần, chưa "sản xuất" được gì đáng ghi nhớ, nhưng biết đâu...

NGUYỄN-PHÚ-LONG
(Mùa Hè 2007)
Đọc thêm!
Các bài thơ hay của Chiêu Đăng
           Các bài thơ hay của Chiêu Đăng
--> Xin giới thiệu đến các bạn một số bài thơ hay và rất có ý nghĩa giáo dục của nhà thơ Chiêu Đăng, một nhà thơ mà tôi không biết rõ lắm về ông nhưng hồn thơ của ông đã làm tôi dâng trào rất mãnh liệt.
Có lẽ các bài thơ này bây giờ cũng hiếm còn ai biết, vì tôi được đọc những bài thơ này trong 1 cuốn sách Ngữ Văn cũ, thời mà sách ghi là Đệ Nhất, Đệ Nhị hay Đệ Tam... Nếu có ai có tài liệu về nhà thơ này thì cũng xin Upload lên cho mọi người được biết. Xin cảm ơn.
          SÀI GÒN
Đô thành, “Hòn ngọc Viễn Đông”,
Nằm bên hữu ngạn con sông Sài Gòn.
Đường thẳng tắp hiệu buôn san sát,
Hàng cây cao bóng mát bên lề.
Suốt ngày, xe chạy nối xe,
Còi kêu, máy nổ tứ bề đinh tai.
Đây dinh thự, lâu đài lộng lẫy,
Nọ Buyn-đinh (building) cao bảy, tám tầng.
Ban đêm đèn điện sáng trưng,
Ca lâu, hí viện tưng bừng cuộc vui.
Tàu ngoại quốc đậu dài suốt bến,
Ngoài phi trường khách đến, khách đi…
Sài Gòn sầm uất kém chi
Thủ đô nước nọ, kinh kỳ nước kia.

KHÔNG NÊN THAY ĐỔI NGHỀ
Bác thợ nọ bỏ nghề đan sáo,
Để học nghề làm áo tơi mưa.
Nhưng trời đại hạn – chán chưa!
Áo tơi bỏ xó, ai mua làm gì!
Bác tự nghĩ: “Nắng thì thiếu nước,
Xoay làm gầu ắt được khách đông.”
Bác bèn học tập gắng công,
Nhưng khi thành nghệ, trời ròng ròng mưa!
Bác quay lại nghề xưa mưu lợi,
Nhưng chiến tranh khí giới cần hơn.
Bác xoay làm giáo, làm gươm,
Than ôi! Tóc đã pha sương, muộn rồi!
Ví bằng chọn một nghề thôi,
Thì đâu đến nỗi suốt đời long đong.

DÂN TỈNH – DÂN QUÊ
Phúc vốn sống từ lầu ở tỉnh,
Một bữa nọ gặp Bính, dân quê.
Vênh vang lên mặt vội chê:
“Trông anh cục mịch, ngô nghê thế nào!
Quanh năm sống sau rào tre biếc,
Còn biết chi những việc ở đời.
Này đây, anh hãy nhìn tôi,
Thử xem có đáng con người văn minh.”
Bính đáp lại: “Vâng, anh người tỉnh,
Vốn hơn tôi cái tính đảo điên,
Ham ăn, ham mặc, ham tiền,
Say mê vật chất, lãng quên tinh thần…
Ai trồng lúa gạo anh ăn?
Không tôi, anh chết nhăn răng, hết cười!”

          NGHỀ NÀO CŨNG QUÝ
“Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”:
Nghề mà thông thạo gia đình ấm no.
Không có nghề nhỏ, nghề to,
Nghề nào cũng ích lợi cho mọi người.
Dù là cày cấy, chăn nuôi,
Dù là buôn bán ngược xuôi kiếm tiền,
Hay là công chức, thợ thuyền,
Chớ nên phân biệt nghề hèn, nghề sang.
Làm nghề cốt phải chu toàn,
Trao dồi nghề nghiệp ngày càng tiến thêm.
Ấy là đáng kính, đáng khen,
Ấy là góp sức xây nền tự do.


MỘT ÔNG GIÁM ĐỐC TỐT
Ai cũng biết ông Bình, Giám đốc,
Người xứng danh công bộc của dân:
Có tài mà lại có nhân,
Quanh năm công vụ chuyên cần chăm lo.
Tuy học rộng, quyền to, chức trọng,
Ông không màng đời sống xa hoa:
Không ham biệt thự nguy nga,
Lên xe xuống ngựa, vào ra kẻ hầu.
Dẫu chức vụ đứng đầu công sở,
Ông không hề trách quở một ai.
Luôn luôn vẻ mặt tươi cười,
Bảo ban công việc, người người tuân theo.
Anh em cảm phục, kính yêu,
Hết lòng cộng tác cố nêu tinh thần.


(còn nữa)
Last edited by levuongle; 30-08-10 at 10:45 AM.   
         http://thcsngochiquoc.com/forum/showthread.php?332-Các-bài-thơ-hay-của-chiêu-đăng



         GÒ CÔNG QUÊ MẸ

         Quê mẹ đông bằng cạnh biển đông
         Là gò khổng tước lắm chim công
         Thần tiên nẩy nở trang hào kiệt
         Thánh địa luân lưu sử Lạc Hồng
         Trương-Định lừng danh cùng đất nước
         Bình Tây nổi tiếng khắp non sông
         Đức bà Từ-Dũ kề thiên tử
         Tên tuổi muôn đời rạng tổ tông.

         Chiêu-Đăng tức Phạm Đăng Chiêu

         http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=263&ia=1521



         Thơ vui xướng họa: Chiêu Đăng, Hoài Việt, Hồ Công Tâm
       Bài Xướng: (8 vận: lò, ho, bó, đo, khó, o, nhó, bò)
  
     TÁM VẬN O
       Thử nặn bài thơ điệu móc lò
        Sợ rằng cũng chẳng mấy hay ho
        Xướng cho bảnh tẻng không gò bó
        Họa cứ ngon lành mựa đắn đo
        Bút thép tệ nhân trao vận khó
        Luật Đường mặc khách đáp vần o
        Khơi nguồn thi hứng đừng nhăn nhó
        Giải thưởng xin khao tiệc bún bò

        CHIÊU ĐĂNG

Đọc thêm!
Niên hiệu tỉnh thành Quảng Ngãi xưa













































Đọc thêm!
Bãng vẻ nhà thờ Quảng Ngãi






























Đọc thêm!