HẬU DUỆ NHÀ MẠC
Giả thuyết họ Phạm Đăng từ Mạc Đăng)
Biên soạn theo Hợp biên thế phả họ Mạc (NXB Văn hoá dân tộc - 2001)
và Gương sáng dòng họ, 2 tập (NXB Lao Động - 2002, 2004)
***
350 con cháu nhà Mạc bị nhà Thanh giao cho triều Lê về sau trở thành người dân tộc thiểu số, sống rải rác khắp các tỉnh vùng Việt Bắc, mang họ Mạc, Mai, Ma, Bế... Nhưng hậu duệ nhà Mạc ở những tỉnh đó không chỉ là con cháu 350 người này vì rất nhiều người đã không theo Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc. Họ ở lại và thay tên đổi họ nên hiện nay nhiều người Tày ở đây lại mang những họ của người Kinh như: Lê, Đàm, Nguyễn...
Ở trang Hùng Khê, nay là thôn Câu Tử, xã Hợp Thành, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng có một chi họ Mạc ngay khi họ Mạc bị săn lùng ráo riết vẫn được yên ổn và giữ nguyên họ Mạc từ đấy đến nay. Ninh vương Mạc Phúc Tư là thuỷ tổ của chi họ này. Nguyên là năm 1573, con Mạc Phúc Tư là Mạc Đạo Trai theo quân vào đánh Thanh Hoa chẳng may bị bắt. Trịnh Tùng muốn dùng ông để đánh đòn tâm lý vào nhà Mạc nên gả con gái là Trịnh Thị Nhân cho. Tuy nhiên Đạo Trai đã tự sát. Trịnh Thị Nhân giữ tiết không tái giá, vì không có con nên xin người cháu gọi chồng là chú làm con nuôi; người này về sau đưa mẹ về Hùng Khê phụng dưỡng, con cháu do vậy vẫn được giữ họ Mạc và hậu duệ còn đến ngày nay.
Con cháu nhà Mạc quyết chiêu tuyết cho nỗi oan lịch sử của hàng triệu con người nên đã đề ra nguyên tắc “biến dị nhi đồng” và nghĩ ra những quy định để sau hàng trăm năm dù ở đâu và mang những họ khác nhau, vẫn nhận ra nhau cùng chung nguồn gốc:
- Do chữ Mạc có bộ “thảo đầu” nên họ quy định “Khử túc bất khử thủ” (bỏ chân không bỏ đầu), từ đó đổi sang những họ trong chữ Hán cũng có “thảo đầu” như: Hoàng, Cát, Lê, Thái, Phạm, Lều...
- Hoặc giữ lấy chữ “Đăng” làm tên lót, hình thành các họ Lê Đăng, Hoàng Đăng, Phạm Đăng, Phan Đăng, Bùi Đăng, Thạch Đăng...
- Hoặc lấy theo họ mẹ, như Bùi ( tổ là Mạc Phúc Đăng - con Mạc Phúc Hải và Quý phi Bùi Thị Ban), họ Đặng (tổ là Mạc Mậu Giang - con Mạc Mậu Hợp và Quý phi Đặng Thị Xuân) ...
Họ Phạm ở phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định tổ là Mạc Đăng Thận, cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung đổi thành Phạm Đình Trú, ra đi từ Cổ Trai đã mang theo thanh đao của Mạc Thái Tổ, hiện còn thờ ở từ đường họ. Mạc Bia, hậu duệ của Mạc Kính Điển hiện sống ở Mỹ còn giữ được quả ấn của nhà Mạc.
Họ Vũ Tiến ở xã Đồng Xuân, huyện Đông Hưng, Thái Bình vào năm 1994 tu tạo từ đường, khi cạo lớp vôi tường đã vô tình làm lộ ra đôi câu đối chữ Hán, đại ý: “Gia thế cho hay rằng là con cháu của Trạng nguyên họ Mạc đời Trần (Mạc Đĩnh Chi) / Tộc phả lưu truyền rằng vốn quê ở Đông Hải, quận Thanh Hà dời san”. Họ Nguyễn Phương ở Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ tổ là Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Mậu Hợp có đôi câu đối truyền đời: “Phúc khánh Đại Đồng, thực lạc nhất thành Chân Cảm / Gia đình Yên Lạc, toàn bằng tiên tổ Chí Linh”, nội dung khá bí hiểm nhưng điều chính là ghi lại những nơi Mậu Gang đã đi qua trên đường lánh nạn, từ đó muốn con cháu lần về gốc: Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc và quê gốc là Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dương Bá Cung, người đã viết thế phả họ Lều vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) nói: “Tổ tiên họ Mạc đến đầu thời Lê trung hưng đôỉ thành họ Lều, giữ lại bộ thảo đầu để khỏi lẫn với họ khác”. Gia phả họ Phạm ở Cao Sơn, xã Thái Hoà, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình đã viết sự tích dòng họ mình thành thơ cho dễ nhớ: “Tổ tiên ta xưa kia là họ Mạc/ ở huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Yên...Để giấu che tung tích tránh nguy cơ/ Bỏ họ Mạc đổi thành họ Phạm...”. Gia phả họ Trần ở xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay câu đầu có viết: “Xưa họ Mạc đến Hiển tổ ta bắt đầu đổi sang họ Trần cho theo đó chưa đổ lại họ. Người có gốc như cây có gốc, nước có nguồn. Cái lý đó há nỡ lòng quên...”. Tộc phả Lê Đăng ở thôn Phương La Đông, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở đầu: “Gốc họ Lê Đăng chính là Mạc Đăng”...
Có những người để ra hàng chục năm trời đi khắp nơi để “vấn tổ tầm tông” vào những năm đường sá, xe cộ còn hết sức khó khăn; có những cụ già cuối đời dứt khoát tìm về Cổ Trai viếng thăm đất tổ rồi mới chịu nhắm mắt xuôi tay...
Con cháu nhà Mạc nhờ vậy sau hàng trăm năm vẫn nhận ra nhau và hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Mạc Thái Tổ, lại từ khắp nơi về thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng lễ tổ và họp mặt và cứ 5 năm lại là đại giỗ. Bên cạnh đó, dịp kỷ niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, 28 tháng 11 âm lịch, cũng là dịp con cháu nhà Mạc trên Cao Bằng xuống xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng dâng hương tỏ lòng biết ơn Trạng đã giúp họ tồn tại đến ngày nay.
Điều kỳ diệu nhất là đôi câu đối tương truyền là sấm Trạnh Trình:“Tứ bách niên tiền chung phục thuỷ/ Thập tam thế hậu dị nhi đồng” (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu/ Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn chung). Tính ra, từ năm 1592 khi Mạc Mậu Hợp bị bắt, đến năm 1992 là năm các nhà khoa học lịch sử bắt đầu có những ý kiến đánh giá lại nhà Mạc một cách công bằng hơn, thoát khỏi sự lệ thuộc vào quan điểm của sử thần nhà Lê và Trần Trọng Kim, đúng là tròn 400 năm. Đặc biệt, sau cuộc Hội thảo khoa học về Vương triều Mạc tổ chức tại huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng, ngày 18/7/1994, việc sưu tầm tài liệu về họ Mạc được các Ban liên lạc họ Mạc ở nhiều nơi quan tâm.
Đến ngày 30/6/2000, Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã lập được danh sách 369 chi họ Mạc và chi họ gốc Mạc ở 25 tỉnh, thành phố (xếp theo A,B,C):
1. Bắc Giang 11 chi họ: Mạc, Hoàng, Nguyễn, Đào Đăng, Đặng, Phạm, Trần.
2. Bắc Ninh 5 chi họ: Lê Đăng, Đoàn, Hán, Mậu, Lê Đăng.
3. Bình Định 3 chi họ: Mạc.
4. Bình Thuận 1 chi họ: Huỳnh Công Triều.
5. Cao Bằng 15 chi họ: Mạc, Hoàng, Bế, Vương, Phạm Đăng, Mai, Đinh, Mạc Ngọc.
6. Đồng Nai 1 chi họ: Bùi Thái.
7. Hà Nam 3 chi họ: Hoàng, Mạc, Văn.
8. Hà Nội 5 chi họ: Thạch, Phương Đình, Phương Văn.
9. Hà Tây 13 chi họ: Bùi Trần, Lều, Cát, Mạc, Liêu, Hoàng, Phùng, Lê, Chu, Phương (gồm Phương Văn, Phương Đăng, Phương Đình, Phương Công), Nguyễn Đăng, Trần Đăng.
10. Hà Tĩnh 28 chi họ: Phạm Công, Phạm, Phạm Bá, Thái Văn, Phạm Viết, Phạm Văn, Bùi, Hoàng Văn, Thái, Phan, Thái Xuân, Thái Khắc, Thái Văn, Phạm Quốc, Phạm Cao, Phan Đình, Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Xuân, Phan Đăng, Phan Văn, Phan Viết, Bùi Đình.
11. Hải Dương 25 chi họ: Mạc (18 chi họ), Nguyễn, Trần, Đặng, Nguyễn Thế.
12. Hải Phòng 4 chi họ: Mạc, Khoa (tức Hoa), Phạm, Hoàng.
13. Hưng Yên 3 chi họ: Mạc, Phạm.
14. Nam Định 11 chi họ: Hoàng, Bùi, Phạm.
15. Ninh Bình 4 chi họ Phạm.
16. Nghệ An 182 chi họ: Với 5 phái hệ chính:
(1) Phái hệ Phó quốc vương Mạc Đăng Lượng 8 chi họ: Hoàng Trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá, Hoàng Sĩ, Hoàng Văn, Lê Đăng.
(2) Phái hệ Thế tử Mạc Mậu Giang 14 chi họ: Nguyễn Phương, Hoàng Văn, Nguyễn Trọng, Phạm Đình, Phan, Phan Văn, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Đăng.
(3) Phái hệ Thế tử Mạc Đăng Bình 38 chi họ: Thái Doãn, Thái Khắc, Thái Hồng, Thái Văn, Thái Bá, Thái Đắc, Thái Đình, Thái Đạo, Thái Duy, Thái Bá, Thái Huy
(4) Phái hệ hậu duệ Mạc Kính Vũ 6 chi họ: Phạm Ngọc, Phạm Văn, Phạm Bá.
(5) Các phái hệ khác 117 chi họ: Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Đăng, Hoàng Thế, Hoàng Đức, Hoàng Đình, Hoàng Khắc, Hoàng Ngọc, Hoàng Duy, Hoàng Như, Hoàng Kim, Thái, Thái Hữu, Thái Văn, Phạm, Phạm Hồng, Phạm Viết, Phạm Văn, Phạm Đình, Phạm Bá, Phạm Xuân, Phạm Hữu, Phạm Trọng, Phan, Phan Đình, Phan Hữu, Bùi Đình, Bùi Văn, Bùi, Bùi Gia, Bùi Thái, Bùi Công Trần, Lê, Lê Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân, Nguyễn Quốc, Mạc, Cao Thái, Hồ Đăng.
17.Quảng Bình 2 chi họ: Hoàng, Phạm Bá.
18. Quảng Nam 5 chi họ: Hoàng, Huỳnh, Huỳnh Phương, Nguyễn Trường, Mạc Nguyễn Trường.
19. Quảng Ngãi 4 chi họ: Huỳnh, Phạm, Bùi.
20.Quảng Ninh: 3 chi họ Mạc.
21. Thái Bình 22 chi họ: Hoàng, Phạm Văn, Phạm Ngọc, Phạm Đăng, Phạm, Phạm Đình, Phạm Ngụ, Phạm Xuân, Phạm Chi, Thái Văn, Bùi Đăng, Bùi Đình, Lều Văn, Khổng, Nguyễn Doãn, Nguyễn Công, Vũ Tiến, Vũ Như, Tô, Đỗ, Lê Đăng.
22. Thái Nguyên 4 chi họ: Mạc, Nông, Đoàn.
23. Thanh Hoá 10 chi họ: Hoàng, Hoàng Viết, Hoàng Trịnh, Lê Đăng, Đỗ, Tô, Phạm.
24. Vĩnh Phúc 4 chi họ: Chữ, Hoàng, Nguyễn, Nguyễn Đăng.
25. Yên Bái 1 chi họ Mạc.
Hải Phòng, tháng 8 - 2006
tháng 4 - 2007
Bùi Mạnh Quỳnh (Theo Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê)
Giả thuyết họ Phạm Đăng từ Mạc Đăng)
Biên soạn theo Hợp biên thế phả họ Mạc (NXB Văn hoá dân tộc - 2001)
và Gương sáng dòng họ, 2 tập (NXB Lao Động - 2002, 2004)
***
350 con cháu nhà Mạc bị nhà Thanh giao cho triều Lê về sau trở thành người dân tộc thiểu số, sống rải rác khắp các tỉnh vùng Việt Bắc, mang họ Mạc, Mai, Ma, Bế... Nhưng hậu duệ nhà Mạc ở những tỉnh đó không chỉ là con cháu 350 người này vì rất nhiều người đã không theo Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc. Họ ở lại và thay tên đổi họ nên hiện nay nhiều người Tày ở đây lại mang những họ của người Kinh như: Lê, Đàm, Nguyễn...
Ở trang Hùng Khê, nay là thôn Câu Tử, xã Hợp Thành, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng có một chi họ Mạc ngay khi họ Mạc bị săn lùng ráo riết vẫn được yên ổn và giữ nguyên họ Mạc từ đấy đến nay. Ninh vương Mạc Phúc Tư là thuỷ tổ của chi họ này. Nguyên là năm 1573, con Mạc Phúc Tư là Mạc Đạo Trai theo quân vào đánh Thanh Hoa chẳng may bị bắt. Trịnh Tùng muốn dùng ông để đánh đòn tâm lý vào nhà Mạc nên gả con gái là Trịnh Thị Nhân cho. Tuy nhiên Đạo Trai đã tự sát. Trịnh Thị Nhân giữ tiết không tái giá, vì không có con nên xin người cháu gọi chồng là chú làm con nuôi; người này về sau đưa mẹ về Hùng Khê phụng dưỡng, con cháu do vậy vẫn được giữ họ Mạc và hậu duệ còn đến ngày nay.
Con cháu nhà Mạc quyết chiêu tuyết cho nỗi oan lịch sử của hàng triệu con người nên đã đề ra nguyên tắc “biến dị nhi đồng” và nghĩ ra những quy định để sau hàng trăm năm dù ở đâu và mang những họ khác nhau, vẫn nhận ra nhau cùng chung nguồn gốc:
- Do chữ Mạc có bộ “thảo đầu” nên họ quy định “Khử túc bất khử thủ” (bỏ chân không bỏ đầu), từ đó đổi sang những họ trong chữ Hán cũng có “thảo đầu” như: Hoàng, Cát, Lê, Thái, Phạm, Lều...
- Hoặc giữ lấy chữ “Đăng” làm tên lót, hình thành các họ Lê Đăng, Hoàng Đăng, Phạm Đăng, Phan Đăng, Bùi Đăng, Thạch Đăng...
- Hoặc lấy theo họ mẹ, như Bùi ( tổ là Mạc Phúc Đăng - con Mạc Phúc Hải và Quý phi Bùi Thị Ban), họ Đặng (tổ là Mạc Mậu Giang - con Mạc Mậu Hợp và Quý phi Đặng Thị Xuân) ...
Họ Phạm ở phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định tổ là Mạc Đăng Thận, cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung đổi thành Phạm Đình Trú, ra đi từ Cổ Trai đã mang theo thanh đao của Mạc Thái Tổ, hiện còn thờ ở từ đường họ. Mạc Bia, hậu duệ của Mạc Kính Điển hiện sống ở Mỹ còn giữ được quả ấn của nhà Mạc.
Họ Vũ Tiến ở xã Đồng Xuân, huyện Đông Hưng, Thái Bình vào năm 1994 tu tạo từ đường, khi cạo lớp vôi tường đã vô tình làm lộ ra đôi câu đối chữ Hán, đại ý: “Gia thế cho hay rằng là con cháu của Trạng nguyên họ Mạc đời Trần (Mạc Đĩnh Chi) / Tộc phả lưu truyền rằng vốn quê ở Đông Hải, quận Thanh Hà dời san”. Họ Nguyễn Phương ở Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ tổ là Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Mậu Hợp có đôi câu đối truyền đời: “Phúc khánh Đại Đồng, thực lạc nhất thành Chân Cảm / Gia đình Yên Lạc, toàn bằng tiên tổ Chí Linh”, nội dung khá bí hiểm nhưng điều chính là ghi lại những nơi Mậu Gang đã đi qua trên đường lánh nạn, từ đó muốn con cháu lần về gốc: Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc và quê gốc là Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dương Bá Cung, người đã viết thế phả họ Lều vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) nói: “Tổ tiên họ Mạc đến đầu thời Lê trung hưng đôỉ thành họ Lều, giữ lại bộ thảo đầu để khỏi lẫn với họ khác”. Gia phả họ Phạm ở Cao Sơn, xã Thái Hoà, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình đã viết sự tích dòng họ mình thành thơ cho dễ nhớ: “Tổ tiên ta xưa kia là họ Mạc/ ở huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Yên...Để giấu che tung tích tránh nguy cơ/ Bỏ họ Mạc đổi thành họ Phạm...”. Gia phả họ Trần ở xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay câu đầu có viết: “Xưa họ Mạc đến Hiển tổ ta bắt đầu đổi sang họ Trần cho theo đó chưa đổ lại họ. Người có gốc như cây có gốc, nước có nguồn. Cái lý đó há nỡ lòng quên...”. Tộc phả Lê Đăng ở thôn Phương La Đông, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở đầu: “Gốc họ Lê Đăng chính là Mạc Đăng”...
Có những người để ra hàng chục năm trời đi khắp nơi để “vấn tổ tầm tông” vào những năm đường sá, xe cộ còn hết sức khó khăn; có những cụ già cuối đời dứt khoát tìm về Cổ Trai viếng thăm đất tổ rồi mới chịu nhắm mắt xuôi tay...
Con cháu nhà Mạc nhờ vậy sau hàng trăm năm vẫn nhận ra nhau và hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Mạc Thái Tổ, lại từ khắp nơi về thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng lễ tổ và họp mặt và cứ 5 năm lại là đại giỗ. Bên cạnh đó, dịp kỷ niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, 28 tháng 11 âm lịch, cũng là dịp con cháu nhà Mạc trên Cao Bằng xuống xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng dâng hương tỏ lòng biết ơn Trạng đã giúp họ tồn tại đến ngày nay.
Điều kỳ diệu nhất là đôi câu đối tương truyền là sấm Trạnh Trình:“Tứ bách niên tiền chung phục thuỷ/ Thập tam thế hậu dị nhi đồng” (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu/ Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn chung). Tính ra, từ năm 1592 khi Mạc Mậu Hợp bị bắt, đến năm 1992 là năm các nhà khoa học lịch sử bắt đầu có những ý kiến đánh giá lại nhà Mạc một cách công bằng hơn, thoát khỏi sự lệ thuộc vào quan điểm của sử thần nhà Lê và Trần Trọng Kim, đúng là tròn 400 năm. Đặc biệt, sau cuộc Hội thảo khoa học về Vương triều Mạc tổ chức tại huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng, ngày 18/7/1994, việc sưu tầm tài liệu về họ Mạc được các Ban liên lạc họ Mạc ở nhiều nơi quan tâm.
Đến ngày 30/6/2000, Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã lập được danh sách 369 chi họ Mạc và chi họ gốc Mạc ở 25 tỉnh, thành phố (xếp theo A,B,C):
1. Bắc Giang 11 chi họ: Mạc, Hoàng, Nguyễn, Đào Đăng, Đặng, Phạm, Trần.
2. Bắc Ninh 5 chi họ: Lê Đăng, Đoàn, Hán, Mậu, Lê Đăng.
3. Bình Định 3 chi họ: Mạc.
4. Bình Thuận 1 chi họ: Huỳnh Công Triều.
5. Cao Bằng 15 chi họ: Mạc, Hoàng, Bế, Vương, Phạm Đăng, Mai, Đinh, Mạc Ngọc.
6. Đồng Nai 1 chi họ: Bùi Thái.
7. Hà Nam 3 chi họ: Hoàng, Mạc, Văn.
8. Hà Nội 5 chi họ: Thạch, Phương Đình, Phương Văn.
9. Hà Tây 13 chi họ: Bùi Trần, Lều, Cát, Mạc, Liêu, Hoàng, Phùng, Lê, Chu, Phương (gồm Phương Văn, Phương Đăng, Phương Đình, Phương Công), Nguyễn Đăng, Trần Đăng.
10. Hà Tĩnh 28 chi họ: Phạm Công, Phạm, Phạm Bá, Thái Văn, Phạm Viết, Phạm Văn, Bùi, Hoàng Văn, Thái, Phan, Thái Xuân, Thái Khắc, Thái Văn, Phạm Quốc, Phạm Cao, Phan Đình, Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Xuân, Phan Đăng, Phan Văn, Phan Viết, Bùi Đình.
11. Hải Dương 25 chi họ: Mạc (18 chi họ), Nguyễn, Trần, Đặng, Nguyễn Thế.
12. Hải Phòng 4 chi họ: Mạc, Khoa (tức Hoa), Phạm, Hoàng.
13. Hưng Yên 3 chi họ: Mạc, Phạm.
14. Nam Định 11 chi họ: Hoàng, Bùi, Phạm.
15. Ninh Bình 4 chi họ Phạm.
16. Nghệ An 182 chi họ: Với 5 phái hệ chính:
(1) Phái hệ Phó quốc vương Mạc Đăng Lượng 8 chi họ: Hoàng Trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá, Hoàng Sĩ, Hoàng Văn, Lê Đăng.
(2) Phái hệ Thế tử Mạc Mậu Giang 14 chi họ: Nguyễn Phương, Hoàng Văn, Nguyễn Trọng, Phạm Đình, Phan, Phan Văn, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Đăng.
(3) Phái hệ Thế tử Mạc Đăng Bình 38 chi họ: Thái Doãn, Thái Khắc, Thái Hồng, Thái Văn, Thái Bá, Thái Đắc, Thái Đình, Thái Đạo, Thái Duy, Thái Bá, Thái Huy
(4) Phái hệ hậu duệ Mạc Kính Vũ 6 chi họ: Phạm Ngọc, Phạm Văn, Phạm Bá.
(5) Các phái hệ khác 117 chi họ: Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Đăng, Hoàng Thế, Hoàng Đức, Hoàng Đình, Hoàng Khắc, Hoàng Ngọc, Hoàng Duy, Hoàng Như, Hoàng Kim, Thái, Thái Hữu, Thái Văn, Phạm, Phạm Hồng, Phạm Viết, Phạm Văn, Phạm Đình, Phạm Bá, Phạm Xuân, Phạm Hữu, Phạm Trọng, Phan, Phan Đình, Phan Hữu, Bùi Đình, Bùi Văn, Bùi, Bùi Gia, Bùi Thái, Bùi Công Trần, Lê, Lê Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân, Nguyễn Quốc, Mạc, Cao Thái, Hồ Đăng.
17.Quảng Bình 2 chi họ: Hoàng, Phạm Bá.
18. Quảng Nam 5 chi họ: Hoàng, Huỳnh, Huỳnh Phương, Nguyễn Trường, Mạc Nguyễn Trường.
19. Quảng Ngãi 4 chi họ: Huỳnh, Phạm, Bùi.
20.Quảng Ninh: 3 chi họ Mạc.
21. Thái Bình 22 chi họ: Hoàng, Phạm Văn, Phạm Ngọc, Phạm Đăng, Phạm, Phạm Đình, Phạm Ngụ, Phạm Xuân, Phạm Chi, Thái Văn, Bùi Đăng, Bùi Đình, Lều Văn, Khổng, Nguyễn Doãn, Nguyễn Công, Vũ Tiến, Vũ Như, Tô, Đỗ, Lê Đăng.
22. Thái Nguyên 4 chi họ: Mạc, Nông, Đoàn.
23. Thanh Hoá 10 chi họ: Hoàng, Hoàng Viết, Hoàng Trịnh, Lê Đăng, Đỗ, Tô, Phạm.
24. Vĩnh Phúc 4 chi họ: Chữ, Hoàng, Nguyễn, Nguyễn Đăng.
25. Yên Bái 1 chi họ Mạc.
Hải Phòng, tháng 8 - 2006
tháng 4 - 2007
Bùi Mạnh Quỳnh (Theo Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê)
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.