Dinh chánh tham biện

HÌNH GÒ CÔNG SỐ 6

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

DINH CHÁNH THAM BIỆN

Palais - Habitation du Chef de la Province

Tôi tìm thấy bức hình trên và một đoạn nhật ký trên Blog của một người Pháp

Tôi in bức hình mới nầy thay bức hình Gò Công số 6 trong bộ sưu tập. Và đoạn nhật ký như sau:

Lundi, 28 Août, 2006

Sur la piste de Go Cong

La tête pleine de ces velléités propriétaires, nous poursuivons notre route et arrivons à Go Cong même, bourgade assoupie au soleil de midi. Il y a là de somptueux témoignages de la présence coloniale chinoise et française, qui lentement se délitent et s’écaillent. L’ancien palais du gouverneur accueille sous ses toits des myriades d’oiseau d’un entrepreneur du cru fait baver à outrance : c’est que cela rapporte, ces nids pour soupe royale !

Tạm dịch:

Ngày Thứ Hai, 28 Tháng 8, 2006

Trên đường đi Gò Công

Chúng tôi có cảm giác thơi thới cho mình như là chủ nhân của xứ sở nầy, tiếp tục theo con đường và chúng tôi đến Gò Công, một thị trấn nhỏ dịu nắng buổi trưa. Ở đây có những chứng tích lộng lẫy của sự hiện diện nền thuộc địa Tàu và Pháp, chúng đang dần dần nức nẻ và bong tróc từng mảng. Cái dinh thự xưa của viên Chánh Thanh Biện đang nhận cho trú ngụ dưới mái lầu hằng hà sa số chim yến do một nhà kinh doanh khai thác nước miếng của chúng tiết ra thành tổ yến. Và từ yến sào chế biến thành món xúp vương giả.

DINH CHÁNH THAM BIỆN

NIÊN BIỂU

Một người Pháp viết Blog, nhật ký :

L’ancien palais du gouverneur est un témoignage somptueux de la présence coloniale française à Gò Cong.

"Dinh thự xưa của viên Chánh Tham biện là chứng tích lộng lẫy của sự hiện diện nền thuộc địa Pháp tại Gò Công".

Tư dinh nầy chẳng những chứng kiến trọn thời gian Pháp chiếm miền Nam làm thuộc địa rồi chấm dứt năm 1945 mà còn là chứng nhân của nhiều sự kiện lịch sử địa phương tới năm 1975 và bây giờ 2007 đang im lìm mong đợi sự trùng tu trong năm tới…hay sẽ đi vào quên lãng…!

Năm tháng đã trôi qua nhưng ký ức còn lại (Time flies but memories remain).

Và đây:

1864

Pháp sau khi bình ổn huyện Tân Hòa (toàn miền Gò Công sau nầy), bèn đổi huyện nầy thành Hạt Gò Công (Arrondissement de Go Cong).

Pháp khai phá rừng hoang, đào kinh xẻ rạch, lập sổ bộ sinh tử, giá thú (sau thành Hộ tịch – État civil), cùng thiết lập nhiều cơ sở cai trị, lấy “thôn” cựu trào làm “làng” do ban Hội tề làng lãnh lịnh Pháp cai trị, lập trạm y tế, cơ sở giáo dục (trường tạm đầu tiên) và tổ chức ngay bưu chính (đọc Nhà Bưu điện các kỳ rồi…)

1866

Song song với việc cất pháo đài hình chữ thập, bên Đông có một tòa nhà lộng lẫy kiểu xưa là dinh thự của quan cựu trào, Pháp lấy đặt thành Sở Tham biện (Inspection). Pháo đài và Sở Tham biện nguyên ở “thôn” Thuận Tắc phía Bắc. Thôn Thuận Ngãi phía Nam, cách nhau một con rạch (ít năm sau vào các năm đầu 1870, đào vét lại thành Kinh Salicetty và bắt Cầu Quan nối hai thôn).

Pháp nhập hai thôn Thuận Ngãi (Nam) và thôn Thuận Tắc (Bắc) thành “làng” (village) Thành Phố (tên riêng). Làng Thành Phố (village de Thanh Pho) là lỵ sở (capitale) của Hạt (sau là Tỉnh) Gò Công, chứ không phải Thành Phố Gò Công (Go Cong Ville) như bây giờ có người tưởng…

Sở Tham biện (Inspection des affaires indigènes) gồm có 3 viên tham biện (Inspecteurs), phần vụ mỗi người được quy định tại Sắc lệnh ngày 14 – 07 - 1876 thay đổi Sắc lệnh năm 1873

Tham biện thứ nhứt, được gọi Chánh Tham biện, lo về chính trị và hành chánh tổng quát, kiểm soát tất cả các cơ quan trong Hạt.

Tham biện thứ 2, coi việc thu thuế, thu xuất tiền bạc, kiểm soát trường học, các tiệm buôn, quân nhu, quân dụng.

Tham biện thứ 3, thiết lập sổ sách thuế má, trước bạ, địa bạ và bưu điện. Tham biện thứ 3 phụ tá Tham biện thứ nhứt, thường gọi là Phó Tham biện (1)

Cước chú (1)

-Nguyễn Duy Oanh: Lịch sử Bến Tre trong Lịch sử Việt Nam các trang 105, 106 và

- De Lanessan: L’Indochine francaise, Phần La Cochinchine, in năm 1889, trang 646

(còn tiếp)

DINH CHÁNH THAM BIỆN

NIÊN BIỂU

(TIẾP 1)

Viên Chánh Tham biện đầu tiên là Trung úy Hải quân Guys. Và chính viên trung úy nầy hoạch định diện mạo cho làng Thành Phố như sau nầy ta thấy. Nhưng đến năm 1872 chỉ có pháo đài là một kiến trúc lẫm liệt. Con rạch chưa thành con kinh và chiếc cầu kiểu Tàu xưa vẫn là phương tiện duy nhất nối liền bên Nam với bên Bắc của làng Thành phố mới.

Xin đọc lại một đoạn văn kể việc một bác sĩ người Pháp tên Morice đến viếng Gò Công vào tháng 10 – 1872 có kể ông ta thấy:

Lúc đó Gò Công được xem là một tỉnh đông dân với 33.000 dân tập trung trong 45 làng (?). Tỉnh lỵ chẳng có gì khác mấy so với các khu toàn nhà lá ở Sài Gòn.

Một số nhà lá vẫn còn ôm lấy một phần bến tàu và người ta có thể thấy vắt qua sông là một cây cầu theo kiểu Trung Hoa.

Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra (thật ra là Sở Tham biện). Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.

Vậy sau 1872 mới bắt đầu đào vét lại con rạch Cửa Khâu thành con Kinh Salicetti (mô tả ở các bài trước). Còn tên Salicetti là tên của viên Chánh Tham biện Vĩnh Long bị nghĩa quân giết năm 1868. Pháp bắt 3 chiếc cầu sắt trên khúc kinh nội thị : Cầu Quan, Cầu Phủ và Cầu Huyện (xem bài “Những chiếc cầu trên dòng Kinh Salicetti” đăng từ trang 44 của Go Cong.Edu.net)

1882

Tình hình chung: Khi đặt xong nền bảo hộ, người Pháp chia Nam kỳ thành 20 Hạt (arrondissement). Gò Công là Hạt Gò Công và Nghị định ngày 12 – 5 – 1882 của Thống đốc Nam kỳ tổ chức mỗi hạt một cơ quan đại diện dân chúng gọi là Hội đồng Địa hạt (Conseil d’Arrondissement). Những người có điền sản có uy tín ứng cử để được cử làm Hội viên Hội đồng Địa hạt. Số hội viên ấn định cho Hạt Gò Công là 4 vị. Về sau, Sắc lệnh ngày 5 – 3 – 1889 của Tổng Thống Pháp cải tổ quy chế và tăng cường Hội đồng Địa hạt Gò Công gồm 10 Hội viên.

Kể từ ban đầu đó (1882) xuất hiện một giai tầng xã hội trọng vọng là các ông Hội đồng là gọi tắt của Hội viên Hội đồng Đĩa hạt (Conseiller d’Arrondissement). Từ năm 1882 đến năm 1945 ta đều biết ở làng Thành Phố và các làng lớn đều có các ông Hội đồng. Rồi từ năm 1924, Gò Công là Tỉnh Gò Công và các ông Hội đồng là Hội viên viên Hội đồng Tỉnh hạt (Conseiller Provincial).

Trở lại từ 1882, Hạt Gò Công có 37 làng trực thuộc 4 tổng (từ năm 1924 mới thêm 1 tổng thành 5 tổng 40 làng). Bốn tổng là:

Hòa Đồng Thượng, Hòa Đồng Hạ,

Hòa Lạc Thượng, Hòa Lạc Hạ.

Chuyện thêm, năm 1882 là năm bà Trần Thị Sanh là bà Hầu của Trương Công Định mất để lại gia tài điền sản cho con gái duy nhất là Dương Thị Hương được biết là bà Huyện Huỳnh Đình Ngươn, dân Gò Công quen gọi là bà Huyện. Bà Huyện là mẹ của bà Huỳnh Thị Điệu tức Phủ Nguyễn Văn Hải sau nầy. Bà Trần Thị Sanh từ năm 1864 là năm Bà chôn chồng Trương Công Định đã giàu lại làm giàu thêm cho đến năm 1882 bà chết, bà giàu đến đổi Nguyễn Liêng Phong trong “Nam Kỳ Lục Tỉnh Nhơn Vật Phong Tục Diễn Ca” xuất bản năm 1909 ghi thơ về bà như sau:

“Gò Công bốn tổng đông giàu

Mà riêng có một bà Hầu giàu to”

Một lần nữa ta biết Hạt Gò Công ban đầu có 4 tổng như kể trên

DINH CHÁNH THAM BIỆN

NIÊN BIỂU

(TIẾP 2)

1885

Năm 1885 Dinh Chánh Tham biện được xây dựng phía Bắc của thành săn đá (soldats) trên đám ruộng lầy của thôn Thuận Tắc cũ. Khu nầy được qui hoạch thành một phức hợp (complexe) rộng được bao bọc bốn bề bằng bốn con đường. Khu Dinh Chánh Tham biện nhìn phía Nam và con đường ngang mặt từ khởi đầu đến nay đều mang tên những người từng ở và điều hành công việc hàng tỉnh hay nói rõ ràng là việc hành chánh cho miền Gò Công bao nỗi thăng trầm nầy. Con đường ban đầu mang tên quan chức Tây và từ năm 1950 mang tên vị tỉnh trưởng người Việt đầu tiên của chánh quyền Sài Gòn: Thái Lập Thành. Sau năm 1975 đường mang tên Nguyễn Văn Côn, người đại diện CM VN tháng 9 năm 1945 tiếp quản dinh Tỉnh trưởng nầy.

Cũng năm 1885, song song với việc xây dựng Dinh Chánh Tham biện Pháp cho xây Sở Tham biện bên phía Tây Dinh và bỏ nhà Sở Tham biện cũ giáp với Thành pháo đài. Sở Tham biện tên Tây vẫn giữ cho tới năm 1945 là L’Inspection de Go Cong. Người dân nhớ cựu trào bèn gọi là Tòa Bố.

Thời Nhà Nguyễn viên quan cai trị một tỉnh là quan Bố Chánh và nơi viên quan làm việc gọi là Dinh Bố chánh. Chữ “tòa” lúc đó chỉ có nghĩa tương đương với “dinh” như Tòa Án được chuyển từ Dinh Án Sát. Xưa viên quan Án Sát phụ tá quan Bố Chánh coi việc hình của tỉnh. Ngày nay chữ “tòa” gần như dành cho “tòa án”

Trong khuông viên Dinh bên phía Đông lần lượt hình thành Tòa án và Sân Vận động, nhưng khá trể vào các năm 1930 để thay thế sân vận động cũ mặt Nam con đường trước mặt. Bên Đông cũng có Nhà thờ Thiên Chúa ngó ra đường ra Sơn Qui, nhưng là ngoài khuông viên của Dinh.

Từ 1945 sân vận động cũ do phía nhà binh, quân sự bàn xứ sử dụng và sau vài năm cất miếu Tiên sư. Ngành nào cũng thờ “tiên sư”, nên miếu tiên sư nầy không liên quan đến Văn miếu Gò công để các vị trong Văn đàn Gò Công (1940) đến đó họp ngâm vịnh như một tác giả viết. Tôi từng đi coi Kermesse, hội chợ đấu xảo 40 làng trong tỉnh, do Tây tổ chức năm 1942 trên sân vận động cũ nầy. Từ năm 1958 Trường Trung học Gò Công được cất trên phân nửa phía Đông của sân vận động. Năm 1972 miếu tiên sư quân đội dời về vị trí bây giờ trước cổng vào bên trái của Nhà trẻ Sơn Ca, để phần đất cất thêm phòng học lầu cho trường THGC, bên quân đội chỉ còn giữ dãy cư xá sĩ quan ngó ra đường Lê Văn Duyệt nay đường Lưu Thị Dung.

Nhắc con đường nầy, nhớ lịch sử của nó, đường được hình thành từ cây cầu sắt là Cầu Quan bắc qua kinh Salicetti trước đó, đường chạy thẳng đến cổng Dinh Chánh Tham biện, khi gặp con đường ngang trước khu Dinh.

Từ mặt Nam qua Cầu Quan gặp con đường ngang chạy dọc kinh bờ Bắc, ngó qua bên trái thấy thành pháo đài hay thành “săn đá” từ đầu các năm 1870 đã chuyển thành trường dạy Quốc ngữ và tiếng Tây, dân gọi là Trường quan, ngó bên phải thấy Nhà Đốc học và bên Đông là Nhà Phó Chánh Tham biện, bên Đông nữa là trại lính “Gạc” (Caserne de la Garde Civile Locale). Đi tới nữa bên ngó bên trái thấy khu Khám đường và bên phải thấy sân vận động (cũ).

Bên phía Tây của Dinh là Tòa bố là tòa nhà hình chử “công” ngang ngó mặt ra đường giờ là đường Trần Hưng Đạo (xem bài “Các công sở, công ích bên bờ Bắc Kinh Salicetti” đăng trên Go Cong.edu.net)

Mặt Nam của Dinh còn gọi là mặt sau Dinh ông Chánh hình thành một con đường trồng dương đẹp nên dân dọi là đường Lộ Dương (tôi sẽ giới thiệu bài “Con đường…lộ dương” nối với đường ra Sơn Qui.

Từ năm 1946 – 1947 con đường sau Dinh được đặt tên Việt đầu tiên ở chợ Gò là đường Nguyễn Văn Thinh, nay là đường Nguyễn Trọng Dân. Tất cả những công sở công ích trong khu Dinh ông Chánh giờ chỉ còn cái dinh như mô tả ở trên.

Tiếp:1899

DINH CHÁNH THAM BIỆN

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

1900

Nghị Định ngày 20 – 12 – 1899 của Thống Đốc Nam kỳ ấn định phân chia Nam kỳ ra thành tỉnh (province) kể từ ngày 1 – 1 - 1900. Mỗi tỉnh gồm nhiều quận (délégation), viên chủ quận tiếng Tây là “délégué”, rồi quận chia làm nhiều tổng (canton), viên cai tổng Tây gọi “chef de canton”, tổng lại chia làm nhiều làng (village).

Lần đầu tiên ta biết tỉnh Gò Công là kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 nầy. Không bao lâu... !

1913

Nhưng kể từ ngày 9 – 2 – 1013, Gò Công thành bị đặt lại thành một quận của tỉnh Mỹ Tho, ghi tên giấy tờ là Quận Gò Công (délégation de Go Cong). Thời nầy Gò Công không phát triển nhiều và các làng vẫn giữ nguyên. Vì là quận của Mỹ Tho nên các hồ sơ địa bạ đều do Mỹ Tho phụ trách và lưu trử cho đến năm 1972, muốn tách bằng khoán đất cũng phải lên Sở Điền địa Mỹ Tho. Vì là quận của Mỹ Tho nên Gò Công phải thiết lập đường dây thép từ Gò Công lên Mỹ Tho. Bưu điện Mỹ Tho là trạm chánh của Bưu điện Gò Công. Mọi sự chuyển nhận thư từ, điện tín…đều qua Nhà Bưu Điện Mỹ Tho. (xem bài Nhà Bưu Điện Gò Công)

Thời là quận thì:

Quận Gò Công có 4 tổng và 38 làng

Tổng Hòa Lạc Hạ (10 làng):

Thành Phố, Tân Bình Điền, Kiểng Phước, Tân Duân Đông, Tân Duân Trung, Hòa Nghị, Dương Phước, Bình Ân, Tăng Hòa, Tân Thành.

Tổng Hòa Lạc Thượng (7 làng):

Bình Thành, Bình Xuân, Bình Thạnh Đông, Tân Niêng Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước

Tổng Hòa Đồng Hạ (16 làng):

Bình Công, Bình Luông Đông, Bình Luông Tây, Bình Luông Trung, Long Chánh, Long Thạnh. Tân Cương, Vĩnh Lợi, Vĩnh Hựu, Vĩnh Trị, Vĩnh Thạnh, Yên Luông Đông, Yên Luông Tây, Long Hựu, Tân Thới, Phú Thạnh Đông.

Tổng Hòa Đồng Thượng (5 làng):

Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Thạnh Nhựt, Đồng Sơn.

Phụ chú: Ông Cai Tổng Hòa Lạc Hạ thời nầy là ông Lê Quang Thứ, thường gọi là Tổng Thứ. Ông là viên cai tổng được dân Gò Công nhớ nhứt vì có học thức và có lo cho dân . Nội thị Gò Công trước 1975 có đường Tổng Thứ, đoạn từ Tượng đài Trương Định đến Cầu Huyện.

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

1924

Là Quận thuộc Mỹ Tho 11 năm từ năm 1913, đến năm 1924, quận Gò Công được nâng lên thành tỉnh Gò Công (province de Go Công). Lúc đó toàn xứ Nam kỳ có tất cả là 20 tỉnh đọc theo vần dễ nhớ như sau:

Gia Châu Hà Rạch Trà

Sa Bến Long Tân Sóc

Thủ Tây Biên Mỹ Bà

Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc

(Cấp)

Sau nầy thêm một tỉnh chót là tỉnh Cap Saint Jacques, dân gọi trại là Ô Cấp (Au Cap) hay Cấp, sau 1954 mới gọi là Vũng Tàu.

Từ tỉnh Gia Định tính số 1 đến tỉnh Bạc Liêu mang số 20. Thời đó ghe thuyền và xe ngựati3nh nào đều cũng phải mang số riêng như vậy. Gò Công mang số 18. NHìn số là biết ngay tỉnh nào.

Một điểm đặc biệt so với các tỉnh khác là tỉnh Gò Công thời đó không có quận. Trực thuộc tỉnh có 5 tổng gồm 40 làng.

Tổng Hòa Đồng Thượng (5 làng)

Đồng Sơn, Bình Phục NHì, Thạnh Nhựt, Bình Phú Đông và Bình Phú Tây

Tổng Hòa Đồng Trung (9 làng)

Vĩnh Lợi, Vĩnh VIễn, Vĩnh Hựu, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Trị, Yên Luông Đông, Yên Luông Tây, BÌnh Công và Long Chánh

Tổng Hòa Đồng Hạ (8 làng):

Long Hựu, Long Thạnh, Bình Luông Đông, Bình Luông Tây, Bình Luông Trung, Tân Cương, Tân Thới và Phú Thạnh Đông

Tổng Hòa Lạc Thượng ( 8 làng):

Bình Xuân, BÌnh Thành, BÌnh Thạnh Đông, Tân Niên Trung, Tân Niên Đông, Tân Niên Tay, Tân Phước và Gia Thuận

Tổng Hòa Lạc Hạ (10 làng):

Thành Phố, Tân Thành, Tân BÌnh Điền, Bình Ân, Tăng Hòa, Dương Phước, Tân Duân Trung, Tân Duân Đông, Hòa Nghị và Kiểng Phước.

Mỗi làng có một Ban Hội tề (Conseil des Notables) gồm 12 hương chức điều hành công vụ. Do các Nghị định ngày 27 – 08 -1904, Nghị định ngày 30 – 10 – 1927 và NGhị định ngày 05 – 01 – 1944 do Toàn quyền Đông Dương ấn định.

Các hương chức hội tề là: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Thôn trưởng, Hương hào và Chánh lục bộ. Ngoài ra còn có các hương chức ngoại hội tề phụ tá và chung lo công việc khánh tiết trong làng như Hương văn, Hương lễ, Hương nhạc, Hương biện, Hương viên…

Riêng làng Thành Phố cho tới năm 1945 có những ông hương chức được biết tiếng như ông Cả Lựu (Cung Tất Mai), Cả Tùng (Cao Văn Tùng), Cả Lời (Dương Văn Lời), Hào Cang (Nguyễn Minh Huấn), Bộ Giáp (Trần Văn Giáp) v.v..

Tiếp 1936

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

1936

Đến năm 1936 thì tỉnh Gò Công đã phát triển các mặt từ văn hóa xã hội giáo dục, thống kê dân số, nghiên cứu dân sinh, đến các kỹ thuật khoa học, nghiên cứu thổ nhưởng, đo đạc đất đai chính xác.

Nói chung, đến năm 1936, Gò Công có đủ các cơ sở hạ tàng, điện nước tại tỉnh lỵ, giao thông phát triển.

Biết được là năm 1936 gần như là các tỉnh ở Nam kỳ đều lập “địa phương chí” tức là bảng nghiên cứu các mặt của từng địa phương, ở đây là phạm vi “tỉnh”.

Tỉnh Gò Công có “Monographie de la Province de Gò Công” do Grimald, Tỉnh trưởng Gò Công lập và ký ngày 31 – 12 – 1936.

Bây giờ ta gọi các bản nghiên ứu nầy là “Địa phương chí”. HIện bản Monographie de la Province de Go Cong là tư liệu do Cục Lưu trử Trung ương II TP HCM lưu giữ. Ký hiệu: E.02 – 93 – TĐBCPNV.

Địa phương chí vẫn còn là bản tiếng Pháp, Hội đồng hương Gò Công tìm và dịch ra tiếng Việt. Tôi chưa có dịp thấy nguyên bản thành ra phải căn cứ bản dịch, hy vọng không quá sai lệch vì người dịch là một người lớn tuổi có Tây học

Tập tài liệu gồm 4 quyển ghi từ Quyển I đến Quyển IV.

Mỗi quyển không có tựa chung mà bắt đầu bằng Chương I…Xin lướt các chương quan trọng từ mỗi quyển.

QUYỂN I

CHƯƠNG I

ĐỊA DƯ – MÔ TẢ HÌNH THỂ

I/ Ranh giới: Mô tả như ranh giới sau nầy ta biết, nhưng lại rõ thêm:

Lảnh thổ bao gồm các cù lao Lợi Quan, Ba No và Cồn nổi ở cửa sông Mỹ Tho (?)

Nằm giữa 104 và 105 độ kinh Đông và giữa 11 và 12 độ vĩ Bắc, từ Bắc chí Nam đo được 20 km, từ Đông sang Tây đo được 30 km.

Chiều dài bờ biển : 23 km

Diện tích: 555, 3991 km 2

Đặc điểm: Hình thành do phù sa của sông Cửu Long, vùng đồng bằng không một đồi cao nầy là một trong những vùng đất phì nhiêu của Đông Dương.

Khoảng cách từ Gò Công đến Sài Gòn và các tỉnh lỵ lân cận:

1/ Đường bộ:

- Gò Công - Sài Gòn 57, 600 km (phà Mỹ Lợi (Bac de My Loi)

- Gò Công – Chợ Lớn 51, 000 km (phà Mỹ Lợi)

- Gò Công – Mỹ Tho 35, 000 km (phà Chợ Gạo)

- Gò Công – Tân An 45, 000 km (phà Rạch Lá)

- Gò Công – Gia Định 61, 000 km (phà Mỹ Lợi)

2/ Đường thủy

- Gò Công - Mỹ Tho 45 km, thủy trình Rạch Gò Công, Rạch Lá, Kinh Chợ Gạo, Rạch Kỳ Hôn, Sông Mỹ Tho

- Gò Công – Tân An 56 km, thủy trình: Rạch Gò Công, Rạch Lá, Vàm Cỏ lớn (? Xoai Rạp), Vàm Cỏ Tây.

- Gò Công – Sài Gòn 65 km , thủy trình: Rạch Gò Công, Rạch Lá, Xoai Rạp, Rạch (?) Sài Gòn..

Nhận xét: So với hiện trạng 2007 thì “đường bộ” phát triển hơn là tất yếu.

Còn “đường thủy” thì từ trung tâm Gò Công đi các miền lân cận giờ không còn con đường thủy lộ nào.

Chương trình ngọt hóa Gò Công đã chận các thủy đạo rồi.

Từ Trung tâm Gò Gông, xưa thủy đạo nào cũng bắt đầu bằng Rạch Gò Công. Giờ đã có cái “Cống Đập Gò Công” khá hùng vĩ dùng để xả nước từ miệt Tân Trung, Tân Đông, Tân Tây ra Rạch Lá.

Từ Cống đập Gò Công nầy (chúng tôi các thầy giáo già thực hiện một cuộc hành trình trong ngày 7 – 12 – 2007, bằng xe gắn máy trên bờ bao vùng ngọt hóa Gò Công, đi vòng theo chiều kim đồng hồ, khi về tới chợ Gò Công kim đồng hồ xe cho thấy chúng tôi đã đi gần 100 km).

Cái Cống Đập Gò Công là ranh giới hai xã Long Chánh và Tân Trung, rồi từ cống đi trên đê bao về hướng Bắc, bên tay trái chúng tôi là phía ảnh hưởng của sông Rạch Lá còn có vuông nuôi tôm, chứ bên tay phải cây lúa đã mọc xanh rì. Đến chỗ gặp đường vào phà Mỹ Lợi chúng tôi đã vượt đê trên 30 km. Chúng tôi tiếp chạy trên đê cận sông Soi Rạp đến Vàm Láng cũng gần 25 km. Mé trái từ Tân Phước đến Vàm Láng đã chuẩn bị mặt bằng cho các nhà máy đóng tàu… Rồi từ Vàm Láng chúng tôi chạy trên lộ đê cập theo mé biển đến Tân Thành, đến Đèn Đỏ ra Bến Chùa, ra Thị trấn Tân Hòa, cũng trên 30 km.

Là người Gò Công cố cựu tôi ngạc nhiên và ngưỡng mộ chương trình ngọt hóa Gò Công mà từ đầu các năm 1970 tôi nghe đề cập và mong mỏi.

Kết luận: Gò Công mất các thủy đạo nhưng lưu thông đường bộ thuận lợi hơn.

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

ĐỊA PHƯƠNG CHÍ GÒ CÔNG

(TIẾP)

CHƯƠNG HAI

ĐỊA DƯ CÓ TÍNH LỊCH SỬ

Xáp nhập lãnh thổ:

Quyết định số 60 ngày 25 – 04 – 1871 của Thủy sư Đô đốc, Thống đốc và Tổng Tư lịnh, xáp nhập cù lao Lợi Quan nằm bên hữu ngạn sông Cửa Tiểu vào Gò Công, tăng diện tích Gò Công đến 870, 497 km2

Nguồn gốc tên của tỉnh, các tổng các xã:

Theo thuyết phổ biến nhất, Gò Công mang tên của 1 vị trí cái chợ cũ ở trên một cái “gò” ở tỉnh lỵ hiện nay và chủ của nó là một người đàn bà giàu có nhờ buôn bán tên là “Thị Công”, ghép lhai tên lại thành “Gò Công”

Thuyết thứ hai xuất phát từ cụm từ “Khổng Tước Nguyên” được đặt tên cho địa phương nầy, và nó có nghĩa như sau: khổng tước là “con công” và nguyên là “gò”

Nhận xét: Từ lâu những người nghiên cứu về “Gò Công” đã bát cái thuyết về cái “Quán Bà Công” để chỉ một vùng to lớn đâu phải một mình cái Chợ Gò khu Đông thôi mà còn có khu phía Tây thịnh vượng trước là “Chợ Dinh” tức lỵ sở của Phủ Hòa Thạnh (gồm huyện Tân Thạnh (Gò Công Tây) và huyện Tân Hòa (Gò Công Đông) trước 1852) còn sầm uất và quan trọng hơn chỗ cái quán Bà Công (nếu có) nhiều sau không lấy tên là Gò Dinh còn có lý hơn. Mấy người Việt theo Tây thời 1936 đưa cái ngớ ngẩn nầy cho Tây để Tây ghi vào Địa chí! (Xin xem bài: Người dân không quên vị anh hùng đầu tiên (1784) đã đưa đạ danh Gò Công vào Quốc sử trên Go Cong.Edu.net)

Còn việc đặt tên cho tổng, làng, thông thường không có một ý nghĩa gì về địa dư và xã hội mà thường cầu xin sự phò hộ của trời. Những làng mới, theo một nguyên tắc cố định, mang tên của một làng nầy ghép với tên của một làng khác.

Tên các làng có kèm chữ Hán Việt và dịch nghĩa bằng tiếng Pháp. Rất tiếc tôi không thấy được các tên làng dịch ra tiếng Pháp ra sau. Có lẽ như làng “Long Thạnh” dịch ra là “Prospérité” v.v.

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

ĐỊA PHƯƠNG CHÍ GÒ CÔNG

(TIẾP)

CHƯƠNG III

LỊCH SỬ CỦA TỈNH

1. Thời kỳ trước 1861

Lảnh thổ của tỉnh Gò Công là một phần đất của vương quốc Cam-bốt đến năm 1755, thời gian mà vua của nước nầy buộc phải nhượng lại cho chúa vua An Nam 4 phủ Tam Don, Cau Man, Nam Vian và Xui Rạp dưới quyền cai trị của người An Nam.

Người Cam Bốt phải rời bỏ toàn bộ đất đai Xui Rạp để lại cho người An Nam, vùng đất nầy trở thành huyện Tân Hòa hoặc xứ Gò Công.

Huyện Tân Hòa lúc đầu thuộc tỉnh Định Tường (Mỹ Tho) sau đó tách ra thành một phần đất thuộc tỉnh Gia Định.

Hiệp ước hòa bình đước ký ở Sài Gòn ngày 15 – 03 – 1874 giữa Pháp và triều đình An Nam có một điều khoản quan trọng liên quan đến những ngôi mộ sau đây.

Điều 5: Vua An Nam công nhận quyền tối cao của nước Pháp trên những miền đất mà hiện nay nước Pháp chiếm đóng và ranh giới như sau:

Phía Đông: Biển Nam Hải và nước An Nam (tỉnh Bình Thuận)

Phía Tây: Vịnh Xiêm La

Phía Nam: Biển Nam Hải

Phía Bắc: Nước Cam Bốt và nước An Nam (tỉnh Bình Thuận)

Mười một ngôi mộ của gia đình họ Phạm nằm trên phần đất Tân Niên Đông và Tân Quang Đông (tỉnh Sài Gòn) và ba ngôi mộ của gia đình họ Hồ nằm trên phần đất các làng Linh Chiêu Tây và Tân May (tỉnh Biên Hòa) không được khai quật và phá hoại.

Sẽ ấn định một phần đất rộng 100 mẫu dành cho các ngôi mộ gia đình họ Phạm và một phần đất tương đương cho các ngôi mộ của gia đình họ Hồ. Huê lợi của vùng đất nầy dùng để bảo dưỡng các ngôi mộ và để cung cấp cho những người có công bảo dưỡng các ngôi mộ. Những phần đất nầy được miễn thuế và những trai tráng trong những gia đình nầy cũng được miễn thuế thân, được miễn đi lính và miễn làm xâu.

Năm ngôi mộ của gia đình họ Phạm được xây cất trên phần đất của làng Tân Niên Đông, cách Gò Công 3 km. Đó là các ngôi mộ của:

1/ Phạm Đăng Dinh, ông nội của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Đinh Dậu (1717), từ trần ngày 8 tháng Giêng năm Tân Mùi (1811) thọ 95 tuổi. Sau, vua Tự Đức truy tặng tước BÌnh Thành Bá (tam phẩm của triều đình An Nam)

2/ Phạm Đăng Long, ông cố ngoại vua Tự Đức, sanh năm Canh Tuất (1741), mất ngáy 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810), thọ 69 tuổi. Ông được vua Tự Đức truy phong chức Tư Thiên Đại Phu (Bộ Lại), tước Phước An Hầu và Trang Nghi Công (nhứt phẩm của triều đình An Nam)

3/ Phạm Thị Tánh, bà cố ngoại vua Tự Đức, vợ của Phạm Đăng Long và mẹ của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Giáp Tý (1743), mất ngày 15 tháng 9 năm Giáp Tuất (1814), thọ 71 tuổi. Bà được truy phong Đoan Khiết Phu Nhân..

4/ Phạm Đăng Hưng, ông ngoại vua Tự Đức, con trai ông Phạm Đăng Long và bà Phạm Thị Tánh, sanh ngày 24 tháng 3 năm Ất Dậu (1764), mất ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825) Là Lễ Bộ Thương Thư dưới triều vua Minh Mạng. Vua Tự Đức truy phong chức Vinh Lộc Đại Phu tước Đức Quốc Công (đệ nhất phẩm triều đình An Nam)

5/ Phạm Thị Du, bà ngoại vua Tự Đức, vợ Phạm Đăng Hưng, sanh năm Mậu Tý (1767), mất ngày 8 tháng 6 năm Tân Tỵ (1821) ở tuổi 54, được truy phong Đoan Tu Phu Nhơn (nhứt phẩm)

Nhận xét:

Người Pháp cho viết phần lịch sử của Gò Công trước năm 1861, khá chính xác phù hợp với lịch sử do triều Nguyễn viết. Như năm 1756, Nguyễn Cư Trinh mang gươm từ Thuận Hóa vào miền Nam, nhận đất Lôi Lạp (Địa chí viết Xuy Rạp) từ vua Chân Lạp và chính thức xáp nhập Lôi Lạp vào đất Việt. Tới năm 1861 Pháp đánh huyện Tân Hòa (Gia Định) thì Tân Hòa tức Gò Công đã có lịch sử 106 năm rồi…

Còn trong Hòa ước năm Giáp Tuất 1874 sau khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ 1, có biệt khoản ghi rành về các ngôi mộ của họ Phạm (bên ngoại vua Tự Đức ở Tân Niên Đông và Tân Quang Đông tỉnh Sài Gòn, nay ta biết là ở làng Tân Niên Đông (trước 1945), xã Tân Niên Đông (trước 1975) và nay ở xã Long Hưng thuộc Thị xã Gò Công là một nơi. Còn Tân Quang Đông là ở đâu không rõ, có điều trên bản Pháp văn tên làng không bỏ dấu và có khi viết sai thành ra giờ mờ mịt.

Điều khoản Pháp chịu cấp 100 mẩu đất hay ruộng chắc không thực hiện đúng, trước 1945 chúng tôi không nghe nói Nhà thờ họ Phạm có số ruộng nhiều như thế.

Còn 5 ngôi mộ, bây giờ gọi Lăng Hoàng gia, Địa chí ghi thật chính xác và từ 1936 làm tài liệu cho các nhà nghiên cứu họ Phạm Đăng sau nầy ghi lại và cứ sai dần, tội nghiệp…Có người lại vẽ thêm miền đất Sơn Qui là “Hoàng Triều cương thổ” vốn là tên vùng đất trên Cao nguyên của Bảo Đại. Năm 1936 (cách nay 71 năm) Gò Công còn nhiều nhà nho có thể đến các ngôi mộ họ Phạm đọc trên mộ chí, mới ghi rành và trúng như thế. Ngày nay 2007, bia mộ đã mòn, ai còn đọc được nữa ! Ngay cả tấm bia vua Tự Đức xưng tụng công đức của ngoại tổ là Phạm Đăng Hưng do Phan Thanh Giản soạn, phiên bản (vì nguyên bản tức bia thứ nhứt từ Huế chở vào Nam năm 1859 Pháp chận lấy được, Pháp viết chữ đè lên làm mộ chí cho tên Barbé bị nghĩa quân Trương Định giết tại chùa Khải Trường Sài Gòn, nay nghe nói đã đem về lăng Phạm Đăng Hưng nhưng không thấy), còn chữ trên bia (phiên bản) hiện dựng tại lăng Phạm Đăng Hưng ở Sơn Qui nay chữ nho đã mòn không nhà nho nào còn đọc được, tiếc lắm…

Riêng bà Phạm Thị Du là vợ của Phạm Đăng Hưng và mẹ của bà Từ Dũ, là kiếng họ Phạm ở Gò Táo, Tân Niên Đông, có nhà thờ lớn sau 1861 xây lại thành Đình làng Tân Niên Đông, tôi có nhắc ở bài viết ”Đình làng Thành Phố”. Bà Phạm Thị Du là con ông Phạm Văn Thi, chị của Phạm Ngũ Văn, thụ chức Đông các Đại học sĩ triều đình Huế. Còn Bà Từ Dũ lúc nhỏ, mẹ là bà Du mất năm 1821 nên bà Từ Dũ lúc đó 12 tuổi rời Sơn Qui, Tân Niên Đông vào thôn Thuận Ngãi (chợ Gò Công) ở học nữ công với cô ruột là bà Phạm Thị Phụng và học chữ với dượng là ông Trần Văn Đồ trong 3 năm và năm 1824 bà Từ Dũ (tức nhiên hồi ở Gò Công bà Từ Dũ nhủ danh là Phạm Thị Hằng) tiến cung và sau đó thì ta biết bà là Thái Hoàng Thái Hậu… Điều lý thú là khi bà Phạm thị Hằng ở với cô ruột thì bà Trần Thị Sanh là con gái thứ 6 của ông Đồ bà Phụng mới sanh (1820). Bà Từ Dũ phải thương và ẩm bồng đứa em gái cô cậu nầy ba bốn năm và sau nầy vận nước khiến Gò Công ngã nghiêng, năm 1862 có cuộc hôn nhân giữa Trương Định và bà Trần Thị Sanh vừa góa chồng. Vậy đây là cuộc hôn nhân tự nhiên chăng….Tôi thì không tin là tự nhiên…!!

Ngày 07 – 12 - 2007, 19 PM

NIÊN BIỂU

(TIẾP)

ĐỊA PHƯƠNG CHÍ GÒ CÔNG

(TIẾP)

CHƯƠNG III

LỊCH SỬ CỦA TỈNH

(Tiếp)

Xin giới thiệu phần quan trọng về cuộc kháng chiến chống Pháp của Tri Huyện Thoại và Trương Định theo quan điểm của Địa Chí Gò Công

2. Từ năm 1861 đến ngày nay (1936):

Khi chiếm được tỉnh Sài Gòn, Đô đốc Charner để đất Tân Hòa (Gò Công) ngoài vùng đất chiếm đóng.

Nhưng sự xâm nhập không ngừng của quân phiến loạn quấy rối xứ nầy buộc chúng ta phải vượt qua những đường biên giới đầu tiên mà chúng ta bảo trợ và buộc chúng ta phải đem quân đánh chiếm vùng Mỹ Tho ngày 12 – 04 – 1861. Sự đánh chiếm Mỹ Tho dẫn chúng ta đánh chiếm các vùng nằm giữa nhánh sông Cửu Long và sông Xoài Rạp.

Gò Công bị quân đội viễn chinh đánh chiếm ngày 15 – 2 – 1963 và do một sĩ quan, Quản đốc bổn quốc sự vụ (Directeur des Affaires Indigènes) cai trị thay thế các tri huyện tri phủ An Nam.

Vùng nầy dân rất thưa thớt và rất phì nhiêu, những người hoạt động cho triều đình thường hay lui tới. Chúng thường khuấy động chống lại quân đội của chúng ta và mỗi lần chúng đều bị chúng ta đẩy lui.

Gò Công bị quân 600 quân An Nam tấn công ngày 22 tháng 6 năm 1861 (sau liền khi Mỹ Tho bị chiếm Pháp có chiếm và đống đồn tại Gò Công, đầu năm 1862, Pháp rút bỏ trống Gò Công và ngày 15 – 2 – 1963 chiếm đóng luôn như trên-PTS)

Người cầm đầu của chúng là Huyện Toại (Thoại-PTS), người trước đây có cai trị vùng nầy, đột nhập vào đồn (chợ) Gò Công lúc 5 giờ sáng, tưởng rằng đánh úp được người Pháp. Trung úy Hải quân người Pháp xuất hiện trước quân tấn công với 10 tên lính hải quân, chận đánh chúng trước mặt chợ. Mười tên quân An Nam, trong đó có tên chỉ huy Toại và tên chỉ huy phó, chết tại chỗ, số còn lại rút lui đem theo một số bị thương và xác chết…

(sẽ tiếp: Quản Định)

Nhận xét:

Đọc lịch sử cuộc chiến, cũng nên đọc coi phía bên kia viết như thế nào. Và đây kẻ địch là Pháp viết cho chúng ta một trang sử bi hùng về người anh hùng đầu tiên chống Pháp là Tri huyện Tân Hòa trước đó bị Pháp đẩy lui. Ông là Đỗ Trình Thoại, tôi có viết ở phần “Người Gò Công đỗ đạt Hương Khoa” đăng ở trang 2 trên.

Ông là văn quan người Gò Công đầu tiên xuất thân cử nhân Hương khoa làm tri huyện huyện nhà. Sĩ khí Gò Công khiến viên tri huyện quyết tâm đem quân lính cũ bất khuất tấn công quân địch. Ông ngã xuống tại nơi ông có trách nhiệm giữ gìn. Ông ngã xuống như một võ tướng. May mắn là Pháp viết lại trang nầy để cho con cháu dân Gò Công biết hồi thời Pháp vô, viên tri huyện cuối cùng chống giặc đến cùng và khi ông tử trận, các quân sĩ của ông đã chôn ông ở nơi nào đó của Gò Công. Thôn An Long là quê hương ông sau là hai làng Yên Luông Đông và Tây nay là xã Yên Luông có bao giờ chôn được ông và có ai giờ còn biết ông Đỗ Trình Thoại, người học trò quê Yên Luông đỗ đạt, làm tri huyện Tân Hòa và chết cho huyện Tân Hòa không?

Riêng trước đây tại nội thị Gò Công có đường Huyện Thoại. Rồi đường Huyện Thoại bị bỏ coi như giống các con đường Huyện Ngươn, Huyện Chi…là những tri huyện thời Pháp thuộc…

Xin đọc các cuốn sử:

Việt Sử Tân Biên quyển 5 của Phạm Văn Sơn

Gò Công Xưa và Nay

Monographie de la Province de Go Cong sẽ thấy tên tri huyện Tân Hòa Đỗ Trình Thoại ngã xuống đêm 22 tháng 2 năm 1961 như một vì võ tướng !

Xin đọc “Lịch sử Giáo dục Tiền Giang” Phần Danh sách những người đỗ cử nhân và tiến sĩ ở Tiền Giang từ năm 1813 đến 1864, để thấy tên ông Đỗ Trình Thoại, người thôn An Long, Huyện Tân Hòa đỗ cử nhân thứ 7 khoa năm Quí Mão 1843. Trong danh sách nầy ta thấy : Nguyễn Hữu Huân, người thôn Tịnh Giang, huyện Kiến Hưng đỗ cử nhân thủ khoa khoa năm 1852.

Ngày 9 – 12 – 2007 2:00PM

ĐỊA CHÍ GÒ CÔNG

(TIẾP)

1. Từ năm 1861 đến ngày nay: (tiếp)

Một tên khuấy động khác thay thế Huyện Toại tại Gò Công, tên là Quản Định, đóng quân tại một tổng phía Tây Nam ? (đáng lẽ phải là Đông Bắc, Tân Phước, Gia Thuận – PTS), số tân binh mà ông ta mới tuyển chọn không hề tham gia trận ngày 22 – 6 – 1861.

Quản Định là người chỉ huy đội quân Đồn Điền, thuộc gia đình giàu có được biết tên tuổi trong lúc chỉ huy toán quân tình nguyện chống lại chúng ta ở Chí Hòa.

Ông ta nổi tiếng trong việc ra lịnh thủ tiêu và ám sát ban đêm một trong những người bạn cũ của ông là Bá Hộ Huy, người đã nhận chức cai tổng dưới quyền của người Pháp trong lúc ông nầy ở Đồng Sơn, gần một trong những chiến thuyền của ông.

Ông ta luôn được sự ủng hộ của những người thuộc dòng họ nhà vua, của quan lại cũ và những người bà con của họ đang ở chung quanh Gò Công; trái lại nhiều chủ điền và ngay cả những người bà con của quân phiến loạn đã từng khuấy động năm 1861, nuôi dưỡng hận thù đối với người của triều đình và chánh quyền lại tình nguyện đứng bên cạnh những người cai trị mới, giúp đở những người nầy đánh đuổi quân phiến loạn đang ra sức tàn phá tài sản của họ.

Thủy sư Đô đốc Amiral? (đây không phải là tên vì Amiral nghĩa là Thủy sư Đô đốc, ở đây là Thủy sư Đô đốc Bonnard- PTS) áp dụng một chủ trương cứng rắn bằng cách tập trung sức mạnh của chúng ta, và cai trị xứ nầy bằng những người bản xứ có tinh thần trách nhiệm, ngày 1 tháng 3 năm 1862 , ông cho tản cư bót Gò Công và rút đi sĩ quan cai trị huyện Tân Hòa.

Rút bỏ trung tâm hành chánh, chúng ta chấm dứt sự nghi ngờ của dâaan chúng đối với chúng ta về chủ quyền của họ đối với xứ sở nầy: nhưng một số lớn dân chúng sở tại, tin tưởng sự bảo vệ của chúng ta đến ở cạnh đồn bót của chúng ta thể hiện ý muốn theo chúng ta, cảm thấy yên ổn hơn. Lúc ấy tại Gò Công, người dân nào đã phục vụ trung thành chúng ta bị tàn sát tồi tệ.

Ngày mà người Pháp rút bỏ vùng nầy, có 400 trên 600 dân chúng đi ghe thuyền tản cư đến Sài Gòn và sinh sống ở đây đến năm 1863, thời kỳ mà họ có thể trở về quê cũ đã đỗ nát.

Quản Định bị thua trận ở địa phương nầy từ năm 1861, đã tàn phá tất cả nhà cửa ở gần người Pháp, triệt hạ những ngôi chùa mà quân đội trú đóng và xây dựng phòng tuyến nhỏ kiên cố.

Từ đó những người cầm đầu trú đóng công khai ở một số điểm quan trọng, đi lại tự do trong các làng mạc có hộ vệ đông đảo: họ tổ chức rộng rãi đội ngũ, đóng đồn bót trên những con đường đông người, tổ chức thu thuế và tuyên truyền rộng rãi là trong tương lai chúng ta phải rút đi.

Vào tháng 5 năm 1862 tin nhà vua đã qua đời và tin trong tương lai sẽ có hòa bình được loan truyền (thật ra đó là sắp tới ngày 5 – 6 – 1862 tức ngày ký Hòa ước Nhâm Tuất 1862 nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông, trong đó có huyện Tân Hòa tức Gò Công - PTS), nhưng Quản Định người cầm đầu ở Gò Công cố gắng tranh thủ thời gian và dường như không nghĩ đến việc khuất phục.

Ông ta cũng cố Gò Công, đạt pháo đài dọc theo các con sông rạch dẫn đến trung tâm mà ông ta chiếm đóng đề phòng sự tấn công của tàu chiến Pháp có trách nhiệm canh chừng ông ta.

Tình hình rối loạn tăng lên khắp nơi. Thủy sư Đô đốc Bonnard quyết định chiến đấu chống lại quân phiến loạn có lực lượng tăng cường lấy từ quân đội đồn trú ở Thượng Hải do Đô đốc Jaurès chuyển đến,

Quân ta tiến đánh Gò Công sau khi đã đánh chiếm Biên Hòa và làm chủ con đường Bến Lức….

Tại Vàm Rạch Lá trên sông Vàm Cỏ, chiếc tàu vận tải Européen được dùng làm bịnh viện, trung tâm tiếp tế và dề pô than (tức vựa chứa than đá). Chiếc tàu Alarme thả neo tại Rạch Gò Công, một cụm pháo được đặt trên đất liền để chiến đấu dọc theo con rạch.

Tại Đồng Sơn, phía Tây Bắc Gò Công, chúng ta tấn công mạnh mẽ mặt chính diện và mặt sau đánh vào Các pháo đài do quân phiến loạn dựng lên; một cuộc tấn công nhanh do thiếu tá Piétri chỉ huy quyết định sự thành công ngay từ lúc đầu; phía Đông chiếc tàu Tây Ban Nha Circé bao vây và phong tỏa và chiếm vàm sông Cần Lộc trong sông Xioai Rạp; phía Tây và một phần phía Nam, quân ta cầm chân quân địch bởi đồn Chợ Gạo và cánh quân Mỹ Tho do M, Vergne chỉ huy ở Rạch Lá và do M. Gougard chỉ huy ở Vĩnh Lợi, theo lịnh của Đại tá D’Ariès: M. Guys chỉ huy chiếc tàu Alarme đi ngược dòng sông và trợ lực cho mặt trận chính trên đất liền do tướng Chaumont và Đại tá Palanca chỉ huy.

Các phương tiện của ta dùng để vượt qua sình lầy, đồng tuộng, sông ngòi đã được chuẩn bị đầy đủ; 30 chiếc tàu bọc sắt, mỗi chiếc có thể chở 6 tay súng và thuye3 thủ đoàn tiến lên đi trước theo đội hình và chỉ trong vài phút có thể biến thành một chiếc cầu vững chắc trước mặt quân địch.

Phía sau mặt trận, thông báo hạm Forbin thả neo tại sông Vàm Cỏ tại Vàm Rạch Lá; chiếc Alavanche, chiếc Dragonne và đại bác 20 (/), chiếc St Joseph với 15 ghe thuyền bổ sung vào việc phong tỏa ở phía Tây.

Ngày 25 lúc 8 giờ tối, yên trí là tất cả các vị trí sản sàng, Thủy sư Đô đốc ra lịnh chiếc Ondine tiến công vào sáng ngày mai.

Sáng ngày, mọi nơi bắt đầu tiến công> Kẻ địch run sợ, bắn vài phát đại bác và bỏ chạy nhiều hướng, bỏ lại những mảnh vụn đại bác, vứt, liệng súng ống và quần áo dân quân. Chúng ta tử vong và bị thương ít nhưng bị bịnh nhiều vì phải hành quân trong đầm lầy dưới nắng gay gắt.

Sáng ngày 26, tướng Chaumont cầm đầu một cánh quân, đi xuyên ngang huyện Tân Tòa hướng về phía Nam và chiếm được đồn lủy cuối cùng của quân phiến loạn ở Trại Cá (chi tiết trích từ báo cáo của Thủy sư Đô đốc Bonnard ngày 2 – 3 – 1863)

Như vậy trước sư tấn công khôn khéo của Thủy sư Đô đốc Charner, sự chống cự từ 6 tháng qua của Quản Định bị đánh dẹp trong một ngày.

Quân phiến loạn ít thiệt hại về người vì nhờ rút lui cẩn thận, chúng tổ chức thành từng nhóm nhỏ, nhóm thì ẩn trú ở ranh giới tỉnh Biên Hòa, nhóm thì ở giữa những cù lao sình lầy và phủ đầy dừa nước ở vàm sông Xoai Rạp và Đam Trang (có lẽ là Đường Tranh). Chúng lẫn trốn ở các sào huyệt ít người biết và rất khó đến, chúng tiếp tục liên lạc với BÌnh Thuận và không bao giờ Quản Định ngưng quan hệ với triều đình Huế, người ủng hộ hoạt động của ông ta.

Ông ta trú đóng ở Lý Nhơn giữa vùng đất phù sa dầy dặc cây dừa nước trên một phần đất thấp lé đé mặt nước biển; ông ta hy vọng chúng ta không thể đến được, ông ta có thời giờ củng cố lại lực lượng.

Một trận chiến mới hao người tốn của như trận đánh chiếm Go 2Co6ng không còn cần thiết nữa nhưng nó được đặt dưới sự chỉ huy tích cực của vài sĩ quan kiên quyết không để cho Quản Định có thời gian nghỉ ngơi.

Năm sau các vùng có nhiều thay đổi; một số lớn người An Nam không còn xem chúng ta là những người đàn áp và xâm lược nữa (!), chúng ta đã thu phục những người cộng tác trung thành; họ bắt đầu tin tưởng sự thắng lợi của chúng ta; và người khuấy động nổi tiếng gây thêm hận thù bởi hành động tàn bạo và độc tài của ông ta.

(còn tiếp)

Nhận xét:

Đây là trang sắt máu nhứt trong Địa chí Gò Công do người Pháp viết. Cái lý của kẻ mạnh “la raison du plus fort est toujours la meilleure” thuật lại việc chiếm đóng sao nghe dễ dàng quá, Pháp không quên tô phết thêm cái “chính nghĩa xâm lược”. Nhưng trang Địa chí nầy cũng cho thấy cuộc chiến của Pháp dồn vào nơi cuối cùng của 3 tỉnh miền đông tháng 2 – 1863 là Gò Công thật là khốc liệt và rầm rộ nhứt không thua gì cuộc chiến Kỳ Hòa 4 năm trước 1859. Và cũng do Pháp tỉ mĩ thuật lại chiến thuật “bao và diệt” dốc toàn lực đánh nghĩa quân Gò Công ta mới thấy Gò Công là kiên cường bất khuất và người anh hùng đứng đầu nghĩa quân từ các ngày sôi động đầu năm 1863 đó, tuy phải rút về căn cứ Gia Thuận nhưng đã:

Trong Nam danh tiếng nổi như cồn

Mấy trận Gò Công nứt tiếng đồn”

Sau năm 1864 cụ Đồ Chiểu đã mở đầu 12 bài thơ điếu người anh hùng như thế.

Cũng qua trang nầy ta biết, Pháp cho rằng và tin rằng cuộc kháng chiến của anh hùng Trương Định có sự ủnh hộ của triều đình Huế qua vai trò của tỉnh Bình Thuận.

Xin lưu ý các trang trên viết năm 1936 tức cách sự kiện Pháp chiếm Gò Công (1862 – 1864) 70 năm và cách ngày hôm nay (2007) cũng 70 năm.

Đọc lại và ngẫm nghĩ…

ĐỊA CHÍ GÒ CÔNG

(TIẾP)

1. Từ năm 1861 đến ngày nay: (tiếp)

Người thù không đội trời chung của ông ta đã trở thành một trong những viên chức bản xứ nổi tiếng và dễ mến nhứt của chúng ta; đó là Đội Tấn, một người lính xuất sắc của chúng ta trong năm 1862. Ông được chú ý nhờ cách làm việc hăng hái và can đảm dưới sự chỉ hu của M. Guys, người chỉ huy chiếc tàu Alarme lúc tiến công Gò công. Chỉ một mình và một thanh gươm, Tấn đã đánh chống trả lại một toán đông quân phiến loạn tại một cái cầu hẹp; sau một trấn chống trả oanh liệt, ông được một vài người Pháp kịp đến đở ông đứng dậy vào lúc ông vừa té ngã xuống; đầu gối bị đạn đá bắn bể. Các thầy thuốc người Pháp muốn cưa chân để cứu mạng sống ông, ông từ chối, tự điều trị lấy và tiếp tục làm việc để báo thù.

Sự quan tâm và chăm sóc chu đáo của người Pháp đã gắn chặt ông với chúng ta với môt tình cảm sâu đậm. Ông được tưởng thưởng huân chương nhà bịnh. Ông giúp việc rất đắc lực cho Đái tá Gougeard, người đang tích cực truy lùng quân phiến loạn ở các tỉnh TÂn An và Gò Công.

Tấn tin Quản Định ẩn trốn quanh vùng GÒ Công, nơi mà gia đình ông ta và những người bà con của nhà vua vừa đông, vừa giàu có và mạnh, có thể che dấu ông ta kín đáo và cung cấp cho ông ta những người giúp việc tin cậy

Một cử chỉ khoan dung của Thủy sư Đô đốc De la Grandière thích hợp với truyền thống quan lại An Nam, đã đem về phía chúng taso61 người chiến đấu tuyệt vọng từ phía bên kia giúp chúng ta đánh bắt Quản Định.

Một vụ hạn hán lớn làm cháy những đám mạ đầu tiên ở đồng ruộng phía Nam. Nhiều làng mạc bị quân phiến loạn tàn phá không còn khả năng gieo mạ trở lại. Thủy sư Đô đốc ứng trước cho dân một số tiền cần thiết để mua lúa giống với điều kiện là phải hoàn trả lại sau khi thu hoạch.

Nhiều ông hương chức hội tề rất xúc động, thấy ở vị trí của họ mà mượn được vài ngàn đồng quan Pháp không có tính tiền lời, và việc thu thuế quá nặng của Quàn Định đã thúc đẩy họ báo với Đội Tấn là kẻ thù của ông vừa đến xã Kiểng Phước, một xã nhỏ nằm phía phải sông Xoai Rạp.

Nhà mà Quản Định trú ẩn với 25 tên lính (nghĩa quân) trung thành bị bao vây đêm 19 rạng 20 – 8 – 1864. HỪng sáng, Đội Tấn xông vào nhà với lính của ông, nhưng ông gặp sự chống trả rất yếu ớt; và lính của Quàn Định bị giết tại chỗ. ………………………………………………………………………. (bản gốc, ở đoạn nầy quá mờ, không đọc được, nên mất hết 3 dòng – lời người dịch)……………………………………………………………….

Một viên đạn trúng ngay kẻ chạy trốn và làm hắn gãy cột sống.

Xác của hắn được chôn gần Tòa Bố. Cái chết của Quản Định gây chấn động lớn và gây kinh hoàng cho những phần tử thân với triều đình>

Các giấy tờ có ghi chép nhiều điều lý thú, tên tuổi của những kẻ tòng phạm và nhất là sự giao thiệp mua bán lương thực của một nhà buôn ở Phan Rí thuộc tỉnh Bình Thuận. Rõ ràng hơn là có sự tòng phạm của triều đình Huế.

Như vậy là đã chấm dứt sự kiện gây toa61n hao đáng kể sau thời kỳ ký kết hiệp ước hòa bình năm 1862.

Theo Quyết định của Phó Đô đốc, Tổng Tư lii5nh ngày 5 – 11 – 1867, Quản Tấn, chỉ huy quân sự Gò Công được phong chức danh dự là “lảnh binh” để tưởng thưởng công lao đặc biệt phục vụ nước Pháp trong các chiến công đánh chiếm thắng lợi HƯơng D(Iểm, Ba Tri và Bao Than và chỉ huy đánh hạ Quản Định, người cầm đầu quân phiến loạn ở Gò Công.

Hết Chương III.

Nhận xét:

Trong Kháng Pháp sử thời đầu thì cuộc Kháng chiến của Trương Định ở Gò Công được nghiên cứu và viết nhiều lắm, tựu trung là dùng các nguồn tư liệu dân gian, triều đình và phía Pháp. Và đây là các trang Địa chí Gò Công được chú ý nhiều nhất. Những người làm sử nghiêm túc mới có thể tiếp xúc được các trang Địa chí, vốn viết bằng tiếng Pháp, có một bản lưu trử tại Tòa Bố Gò Công cùng với các phiếu bình điểm của Đội Tấn do Pháp cho điểm hằng năm công chức của Pháp. Các năm 1980… tôi có được chính thức nhờ dịch các tài liệu nầy và lúc đó tôi không có bản lưu thành ra chỉ nhớ…! Giờ thì chỉ thấy bản dịch cuốn Địa chí, không có phương tiện để xin tra cứu bản tiếng Pháp ở Cục Lưu trử II miền Nam tại TP HCM.

Cũng vì kỷ niệm dịch…để người khác…. nên tôi sẽ không trình đăng những nghiên cứu riêng của tôi về Trương Định và mối liên hệ với họ Trần

.

15 – 12 - 2007

DPN.

http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=4
0 Responses

Post a Comment

Note: Only a member of this blog may post a comment.