CÁC BỨC HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ TÌM ĐƯỢC
HÌNH SỐ 7
GO CONG – GENDARMERIE COLONIALE
SỞ HIẾN BINH THUỘC ĐỊA
VỊ TRI
Nhìn kỹ trên mặt tiền “tam giác” có hàng chữ Tây :GENDARMERIE COLONIALE” và dưới bức hình có hàng chữ “ GO CONG – Gendarmerie Coloniale”
Từ trước các năm 1930, Sở Hiến Binh Thuộc địa Gò Công nằm mé bên Đông của Tòa nhà Phó Tỉnh Trưởng, phía bờ Bắc Kinh Salicetti từ chợ qua Cầu Quan rồi quẹo phải đến tòa nhà ông Phó Tham biện rồi đến Sở Hiến Binh (Cảnh sát hình sụ). Từ sau 1930 Sở HIến Binh nhập với Sở Mã tà (Cảnh sát) cùng ở tòa nhà với Kho Bạc (nay trên đường Trần Hưng Đạo, TX GC). Còn Sở Hiến Binh cũ nầy thành Sở chỉ huy lính Gạc (la Garde Civile Locale) sau 1954 thành Trung tâm Cải huấn (khám), nay là đất trống đang chờ xây dựng.
Dec. 24, 2007
PTS.
CÁC BỨC HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ TÌM ĐƯỢC
HÌNH SỐ 8
MOULIN À RIZ À GO CONG
CỐi XAY LÚA Ở GÒ CÔNG
MOULIN À RIZ À GO CONG
CỐi XAY LÚA Ở GÒ CÔNG
GÒ CÔNG xưa là một tỉnh nông nghiệp, trồng lúa và xuất khẩu gạo đứng thứ nhì sau Bến Tre. Đó là chuyện của các năm 1936. Vì nhà máy xay lúa rát ít, chỉ xay lúa số lượng lớn để chở lên Chợ lớn hay xay lúa cho hàng xáo để bán gạo ở các chợ trong tỉnh. Còn dân ở đồng và nông dân phải tự xay giả lúa gạo tại nhà, nhưng thường là ở các nhà trung nông trở lên mới có dụng cụ xay giả, gồm cối xay lúa và cối giả gạo.
Cối xay lúa như trong bức hình trên là hình dạng trước các năm 1930 còn từ năm 1940 như người viết những dòng nầy biết vì nhà làm ruộng nhiều nên có đủ, thì hình dạng cải tiến, lớn hơn, xay lúa thành gạo lức, Cối xay lúa gồm cối trên đỗ vào nửa thùng lúa (giờ 20 lít, lối 10 kg), kéo quây cối trên bằng cái giằn, đầu giằn có mỏ gắn lỏng vào lỗ của tay cối trên, thân giằn song song với mặt đất nhờ hai sợ dây treo tay giằn ở hai đầu, tay giằn thẳng góc với thân giằn, tay giằn phải nằm ngang tầm ngực của người trung bình và rộng đủ cho hai người đứng xay nên cối trên quây nhanh lắm và xay mau. Một người kéo mệt, phải là trai lực lưỡng mới kéo nổi. Còn cối dưới đặt cố định trên một cái giàn thấp có 4 chân, dưới giàn cối đặt chiếc đệm hứng gạo lứt.
Đại khái là cái cối xay trong hình mặc dầu hình dáng thô và không chắc chắn nhưng người Gò Công cố cựu thấy và nhận ra ngay. Trong hình cho thấy cối dưới thấp hơn cối dưới sau nầy. Cái giằn hồi xưa cong, sau nầy giằn thẳng, có mỏ cũng thẳng.
Như ở nhà tôi trước 1945, mỗi lần xay ít nhất là 10 hay 20 thùng lúa (giờ lối 200 kg và 400 kg), phải cần tới 3 người, hai người kéo giằn, một người đổ lúa vào cối và sẽ sàng lấy lúa lứt và đổ lúa sót lên cối trên xay lại. Xong có lúa lứt rồi phải giả lúa lứt cho trắng gạo.
Cối giả làm bằng thân dưới lớn của cây mù u, khoét lỗ tròn như cái thúng hơn nửa giạ, để mỗi lần giả đổ vào nửa giạ lúa lứt. Cối đặt trên nền đất bằng, cối giả cao khỏi đầu gối lực điền, vì nếu cối thấp người giả phải khom lưng nhiều giả mau mệt. Mỗi cối đều có 3 cái chày.
Giả từ từ thì một người một chày, bổ xuống, gỏ một nhịp vào một góc cối nghe “***” rồi giơ lên, bổ xuống…nghe chậm rãi như điệu buồn…phương nam.
Nếu giả 2 người gọi là giả chày đôi, thường là hai người ăn ý, như đôi vợ chồng trẻ, tiếng gỏ nhịp chày như luyến nhau, mời mọc và nhường nhau. Nói cho vui chứ giả chày đôi là phải có nhịp nhàng không được lở bộ, nguy hiểm, chày người nầy có thể bổ vào đầu người kia. Trong giả chày đôi, khi giơ chày lên phải nhịp góc cối 2 nhịp “*** ***”, người bên kia cũng nhịp vào góc cối chéo 2 nhịp “cùm ***”. Lối giả nầy thường lắm, mau ra gạo và khá an toàn vì hai người cầm chày giả đã quen nhịp.
Tôi lúc nhỏ, sau 1945 đã từng đứng xay lúa, giả gạo chày một, còn giả chày đôi chưa dám vì chưa có bạn đời để đồng tâm nhường nhịn để giả nhịp cho đều. Tôi đi học và học còn thấy dễ hơn giả gạo chày đôi…xin nhớ những anh chị giả gạo ở nhà tôi thưở nào.
Còn nói giả gạo chày ba thì là “năm khi, mười họa” vì chỉ phải tập hợp đủ 3 người trai cường tráng và giả gạo đã thành “lão luyện”. Cối thì có 4 góc mà giả gạo chày ba thì phân chỗ cho có 3 người có một góc bỏ không nhịp chày. Khi giả chày ba, người đứng ngoài chỉ nghe tiếng chày nện liên tục và nhịp chày liên tục mà thấy không kịp. Mỗi người giở chày lên phải gỏ góc cối 3 lần “*** *** ***”, tùy gỏ nhịp mạnh hay nhẹ mà nghe “cúm cùm ***” hay gì gì gì như tiếng chày trên sóc Bom Bo “cắc cùm ***”, nhưng nghe nhanh lắm. Cối giả làm bằng gốc cây mù u khi nhịp nghe tiếng thanh, phân biệt ngay với tiếng nhịp của cối gỗ khác. Chỉ cần lối 5 phút là giả xong một cối và gác chày, chỉ có những người bền sức mới giả nổi cối kế tiếp. Vậy giả gạo chày ba là giả hội ngộ một hai cối gạo cho vui cả năm mới có một lần (ở nhà tôi). Tôi không rành về nhạc nhiều, nhưng giả chày ba tiếng nhịp nhanh không hòa với bài nhạc nhịp 4 được, mà nó hòa trong bài nhạc nhịp 2, cứ nghe “*** *** *** *** *** ***…” liên tục
Thấy hình cái cối xay xưa mà tôi, con nhà nông, nhớ có một thời tôi biết giả gạo…và nhà tôi ăn gạo giả….
Dec. 25, 2007
NGÔI TRƯỜNG QUAN CHỮ THẬP
MỘT TRĂM BA MƯƠI NĂM VANG BÓNG
1868 - 1999
NIÊN BIỂU DINH CHÁNH THAM BIỆN
(TIẾP)
1940
Cho đến năm 1940, thủy lộ Gò Công rất quan trọng.
1. Hệ thống sông rạch:
Trước hết Gò Công được tưới ở phía Đông bởi biển Nam Hải, phía Bắc bởi sông Soai Rạp và Vàm Cỏ, phía Nam bởi sông Cửa Tiểu và một nhánh của sông Cửu Long là sông Cửa Đại, con sông ngăn chia tỉnh nầy với tỉnh Bến Tre
Chảy ngang phần lớn chiều dái của tỉnh là Rạch Gò Công, một nhánh của sông Tra. Con sông nầy nối liền với Rạch Giồng bởi con kinh Vĩnh Lợi và tiếp đường đến sông Mỹ Tho qua đường sông Vàm Cỏ. Đường thủy lộ nội địa nầy dài 24, 600 km là con đường rất quan trọng, nó gần giống hình chữ V, đầu nhọn nằm ở Gò Công mà một cánh hướng về phía Tây Bắc và một cánh hướng về phía Tây Nam tạo nên một vùng rất giàu có và những trung tâm rất quan trọng: Gò Công, Vĩnh Lợi, Vĩnh Hựu
Lòng sông rất sâu rất thuận lợi cho việc vận chuyển trong và ngoài tỉnh các loại nông phẩm thông thường là lúa gạo bằng ghe, thuyền và xà lúp (chaloupe)
Con rạch Gò Công chia ra nhiều nhánh quanh co tưới mát phần lớn trung tâm của tỉnh.
Phía tả ngạn có:
- Rạch Gừa…………. 8.000 m
- Rạch Công Cần Gió ……… 8.000 m
Phía hữu ngạn có:
- Rạch Sơn Qui nối liền với Rạch Cái Tháp và Rạch Xã Sách bởi Rạch Tổng Châu (4.500 m) con rạch chảy ngang chợ Tân Niên Tây
- Rạch Già………….. 3.750 m
Ngoài Rạch Gò Công và các phụ lưu của nó, tỉnh được tưới thêm bởi nhiều phụ lưu khác, ở phía Bắc thì của sông Vàm Cỏ và Soai Rạp, phía Nam thì của Cửa Tiểu và Cửa Đại.
Đó là:
Ở phía Bắc:
Lưu vực sông Tra: Rạch Dao, Rạch Lá và Rạch Hưu, tất cả đều ít quan trọng.
Lưu vực sông Vàm Cò: Rạch Bàng (5,375 km), con rạch giáp chợ Mỹ Lợi sung túc, Rạch Cái Tháp (6,750 km) nối tiếp với Rạch Tổng Châu – Rạch Xã Sách (5,000 km) chảy ngang chợ Tân Phước.
Lưu vực sông Soai Rạp: 16,500 km chảy ngang chợ Kiểng Phước
Ở phía Nam:
Lưu vực sông Cửu Long:
Rạch Long Uông còn gọi là Rạch Cửa Khâu (5, 250 km) chảy ngang chợ Tăng Hòa
Rạch Già (7,500 km) chảy ngang làng Bình Luông Trung
Rạch Sáu Thoàn (1,200 km) tưới làng Bình Luông Đông
Rạch Vàm Giồng (5 km) nối liền Cửa Tiểu với tỉnh lỵ
Ở Cù Lao Lợi Quan:
Những phụ lưu phía mặt sông Cửa Tiểu:
Rạch Bà Tài (Bà Từ?) (3.750 m)
Rạch Nghêu ( 1.200 m)
Những phụ lưu phía trái sông Cửa Đại:
Rạch Lý Quàn (3.250 m)
Rạch Mương (1.250 m)
Rạch Cả Thu (3.150 m)
Những thủy lộ rất thuận tiện cho ghe xuồng chuyên chở trong tỉnh, nhưng khi thủy triều lên cao làm cho nước mặn chảy vào ruộng đồng.
(Địa chí tỉnh Gò Công – Quyển I – Chương I)
(TIẾP)
2. Hệ thống kinh:
Hệ thống thuỷ lộ được bổ sung thêm 5 con kinh:
Kinh Salicetti dài 6,500 m, rộng 20 m năm đào 1869, nối liền rạch Gò Công với Rạch Cửa Khâu (rạch Long Uông) qua các làng Thành Phố (phần nội thị có 3 cây cầu sắt: Cầu Quan, Cầu Phủ, Cầu Huyện, xem các bài đầu của PTS), rồi qua làng Hòa Nghị (có cầu sắt) và qua làng Tăng Hòa (có cầu sắt chợ Cửa Khâu)
Kinh Champeau dài 5.000 m, rộng 15 m, năm đào 1870 tưới vùng Tân Thành
Kinh Vĩnh Lợi dài 8.100 m, rộng 12 m năm đào 1874, nối liền Rạch Gò Công (qua cầu Long Chiến) với Rạch Giồng qua các làng Vĩnh Trị, Vĩnh Lợi và Vĩnh Hựu
Kinh Chợ Gạo Dài 3.600 m, rộng 105 m năm đào 1876, nối liền Rạch Lá với kinh Dupéré (sông Mỹ Tho) và qua làng Đồng Sơn
Kinh Bình Ân dài 840 m rộng 6 m năm đào 1882, được vét và bị bỏ từ khi có hương lộ 3 (kinh nầy nối liền Rạch Lộc, một rạch nhỏ của biển Nam Hải) với một vùng nhỏ của làng Bình Ân, và khô cạn khi thủy triều thấp.
(Địa chí tỉnh Gò Công – Quyển IV – Chương 1)
1940
(TIẾP)
Năm 1940, dưới thời Chánh Tham biện Ropion, khu nội thị Gò Công bắt đầu thay đổi diện mạo. Trước năm 1940, thủy lộ từ chợ Gò Công về chợ Cửa Khâu (làng Tăng Hòa) chỉ dùng con kinh Salicetti từ Vàm kinh tại chợ qua các cây cầu sắt: Cầu Quan, Cầu Phủ (cầu sắt nhỏ hư trước các năm 1930), Cầu Huyện, các cầu thấp, ghe nhỏ chờ nước kém mới qua được, nhu cầu chuyên chở quá hạn chế. Vì vậy Chánh Tham biện cùng Hội đồng Địa hạt thống nhứt tạo một thủy đạo mới thay đoạn kinh Salicetti chảy qua Cầu Quan Cầu Huyện.
Phương án khả thi và độc đáo nầy thực hiện năm 1940. Con kinh mới được đào bắt đầu từ vàm Kinh Vĩnh Lợi với Rạch Gò Công phía Tây Nam cầu Long Chiến, qua phía Nam nội thị rồi bọc lên Bắc gặp và cắt ngang kinh Salicetti từ Cầu Huyện ra ra lối 500 m, chảy thẳng luôn qua Vạn Thắng, qua làng Bình Ân, thẳng về Đông qua làng Tân Bình Điền thành Kinh Trần Văn Dõng sau nầy. Con kinh mới đào nầy cắt rời nội thị Gò Công với làng Yên Luông Đông, làng Tân Cương , làng Tân Duân Trung và làng Hòa Nghị. Bù lại 3 cạy cầu đúc đầu tiên được bắc qua để làng Thành Phố qua các làng trên. Ba cây cầu nầy dân đều kêu là Cầu Đúc nên đoạn kinh mới nầy dân kêu là Kinh Cầu Đúc.
Cây Cầu đúc thứ nhứt qua làng Yên Luông Đông, trước 1954 gọi là Cầu Đúc Chợ mới (Yên Luông Đông).
Cây cầu đúc thứ nhì nối liền đường đi về các làng Tây Nam về Tăng Hòa v.v. vì kế bên phía Bắc cầu có cất lò giết mổ (abattoir) nên gọi là Cầu Đúc Lò Heo.
Cây cầu đúc thứ ba qua xóm Vạn Thắng xuống Bình Ân nên gọi là Cầu Đúc Vạn Thắng. Vị trí 3 cây cầu đúc nầy vẫn cần và các cây cầu đều được thay mới và tên vẫn như xưa…
Thêm đất đào kinh trong nội thị được chở để đấp khu sân vận động, đó là thời 1940…
Tới năm 1943 sẽ có một bước ngoặc đối với các chiếc cầu sắt nội thị trên dòng kinh Salicetti và tên kinh mất dần….
NIÊN BIỂU
1943
Năm 1943 là năm diện mạo nội thị Gò Công 80 tuổi (từ 1864) bắt đầu thay đổi quan trọng!
Nhớ lại từ năm 1864 khi Pháp đã bình ổn toàn vùng huyện Tân Hòa, nên đổi huyện cũ thành Hạt Gò Công vào năm 1864 (Arrondissement de Go Cong). Năm 1866, Sở Tham biện Gò Công được đặt tại thôn Thuận Ngãi. Thôn Thuận Ngãi phía Nam và thôn Thuận Tắc phía Bắc cách nhau một con sông (Rạch Cửa Khâu), hai thôn nầy nhập lại thành làng Thành Phố.
Con rạch ngăn đôi hai thôn xưa có cầu cây qua lại. Khi Pháp quyết định xây Pháo đài và đạt Sở Tham biện tại thôn Thuận Tắc cũ tức bên bờ Bắc con rạch, Pháp cho vét và sửa lại con Rạch Cửa Khâu thành kinh Salicetti và khúc kinh từ chợ Tăng Hòa ra Cửa Tiểu còn gọi là rạch Cửa Khâu. (giờ là từ Cống đập Long Uông của Thị Trấn Tân Hòa ra Cửa Tiểu). Con Rạch Cửa Khâu trước khi Tây vô là con rạch thiên nhiên nối Sông Gò Công ra Cửa Tiểu, tên cũ hồi lưu dân ở lại tên chữ nho là Khâu Giang (sách Tiểu Giáo trình Địa lý của Trương Vĩnh Ký – 1885).
Khi Pháp cho nạo vét Kinh Salicetti, thì khúc kinh nội thị nầy là con kinh đẹp, sạch sẽ và cho bắc tất cả là 5 cái cầu sắt trên con kinh nầy. Ba cầu sắt nội thị: Cầu Quan, Cầu Phủ và Cầu Huyện. Hai cầu sắt kia là Cầu Hòa Nghị (vị trí giờ là cầu Bình Nghị) và Cầu Tăng Hòa (giờ là cầu Thị Trấn Tân Hòa).
Cầu Quan (vị trí giờ là đoạn đường sau đài Chứng Tích Tết Mậu Thân đi đến Trường Tiểu học Phường 1, xưa gọi là Trường Quan) là cây cầu dẫn đến Dinh Chánh Tham Biện và từ đó xe cộ ra các làng Tân Niên Trung, Bình Xuân, Bình Thạnh Đông và đi Chợ Lớn.
Cầu Phủ nối liền đường Lộ Me với đường Nhà Thờ dùng cho người đi bộ, hư hỏng không sử dụng các năm cuối 1930 và được bán sắt vụn một lượt với Cầu Quan năm 1943.
Cầu Huyện, đầu cầu chỗ ngã tư đường Hai Bà Trưng và Nguyễn Huệ bây giờ, qua Cầu Huyện để về các làng phía Đông là Bình Ân và Tân Bình Điền thuộc tổng Hòa Lạc Hạ và các làng Đông Bắc là Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Phước, Gia Thuận về làng Kiểng Phước (Vàm Láng mới lập sau nầy từ 1964) của Tổng Hòa Lạc Thượng. Cầu Huyện bị đốt đầu năm 1948. Không bắt lại cầu mà đặt cống đấp đường; những năm 2000 đã bít luôn cống.
Vậy cho tới đầu năm 1943, hai vùng Nam Bắc làng Thành Phố ngăn chia bởi dòng Kinh Salicetti và còn hai chiếc cầu nối liền Cầu Quan và Cầu Huyện. Cũng có thể kể thêm chiếc cầu sắt lớn là Cầu Long Chiến nối liển vùng Tây Bắc với chợ Gò Công.
Nhắc lại năm 1940 đã đào con Kinh Cầu Đúc khơi một đoạn thủy lộ mới thay thế đoạn Kinh Salicetti nội thị một cách tiện lợi rồi thì đoạn kinh Salicetti nội thị không cần thiết nữa, mà còn cản trở sự lưu thông từ chợ qua khu hành chánh và ngược lại. Cầu Quan là mối nối hai bờ quan trọng nhứt càng lúc càng thấy hẹp, nếu duy trì thì phải làm cầu mới. Các năm nầy Pháp đang thua trận bên mẩu quốc, ngân sách eo hẹp nên Chánh Tham biện Ropion chọn cách bỏ cầu đấp đập làm bờ chia đôi kinh nội thị thành hai dòng bên Đông và bên Tây. Bên Đông có dòng nước từ Cầu Huyện, bên Tây có nước từ vàm Kinh và sông Gò Công.
Đầu năm 1943 bắt đầu các tháng khô, tỉnh bắt đầu cho đổ đất dấp thành đường nối hai đầu đường Trần Hưng Đạo bây giờ. Có đặt cống có bửng để lấy nước hay tháo nước cho phần kinh bên Cầu Quan. Đường và cống đặt xong, bắt đầu cho xe cộ và bộ hành cùng học sinh đi qua khu Bắc bằng đường mới nầy. Khi đường ổn định, Tây cho dở cây Cầu Quan bán sắt. Người thầu mua sắt cây Cầu Quan và phần sắt còn sót lại của Cầu Phủ là Chú Chón người ở chợ cũ Gò Công. Cầu dở xong, bắt đầu đấp đất chỗ cầu cũ mà không có đặt cống như biết ở trên.
Đầu năm 1944, đoạn kinh đấp bờ hai đầu được cải tạo thành “piscine” tức là hồ tắm cho dân Gò Công. (Xem các phần trên – PTS)
Từ năm 1943, con kinh Salicetti không có vàm và đoạn kinh Salicetti nội thị nầy phải mất tới gần 60 năm (2000) mới hoàn toàn thành đất…
NIÊN BIỂU
1944
Năm 1944 Quân đội Phù Tang tức Nhựt Bổn đến đóng ở Đông Dương để hợp lực với nhà cầm quyền Pháp bảo vệ các xứ nầy chống lại Đồng minh Anh, Mỹ, Hoa.
Các tỉnh của xứ Nam Kỳ đều có quân đội Nhựt đóng. Ở Gò Công quân Nhựt đóng giữ các chỗ trọng yếu như bãi biển Tân Thành, Vàm Láng, Cửa Tiểu, những chỗ nầy có thể quân Đồng minh đổ bộ đánh Sài Gòn nên phải phòng thủ. Riêng tại chợ Gò Công người dân thấy quân Nhựt đóng Bộ chỉ huy tại căn phía Nam dãy Kho Bạc bên bờ Bắc Kinh Salicetti và ở Bungalow trước Cầu Quan phía Nam. Quân lính Nhựt thấy không nhiều nhưng buổi chiều thấy binh lính tập quân sự như đánh xáp lá cà ở khu đất trống bên bộ chỉ huy và trên sân tennis của Bungalow. Năm đó lính Nhựt dáng người thấp vạm vỡ nên dân gọi là “giặc lùn”. Quân kỳ của quân đội Nhựt là mặt trời đỏ có các tia cũng đỏ trên nền trắng, còn cờ nước Nhựt là mặt trời đỏ trên nền trắng. Không thấy quân Nhựt có hành động gì ở Gò Công, ngoài việc tại chợ Gò Công có các hầm lộ thiên tránh bom dành cho dân chúng. Dãy hầm dài được đấp ở đường Lộ Dương bên phía Ao Thiết Giếng Nước chạy dài cả trăm thước về phia mũi tàu. Còn một dãy hầm nằm trên miếng đất trống trước mặt đình làng Thành Phố, chỗ bây giờ cất Văn Thánh Miếu. Nói là hầm tránh bom, nhưng dơn sơ, đặt những ống cống rộng một mét đựng đứng và đấp đất chung quang như những cái ụ. Dân gọi theo Tây là các “tranchées”. Lúc đó dân chợ Gò Công dăm bảy bửa cũng có thấy máy bay bay ngang, không biết là máy bay của phe nào, chỉ chờ có còi hụ dài là trèo vào các tranchées ngồi. Cuối năm 1944 cũng có còi hụ vài lần và dân cũng lo sợ leo lên và xuống hầm. Lúc đó dân chợ Gò Công không nhiều thưa thớt nên không có cảnh xô đẩy. Riêng học trò trường Quan nam nữ khi nghe còi hụ được các thầy cô dẫn chạy ra Ao Thiết. Chạy đến nơi cũng mất mươi lăm phút, máy bay bay đâu mất, đứng lớ ngớ rồi thầy dẫn về. Dù có quân Nhựt nhưng ở Dinh Chánh Tham biện các công sở và trường học vẫn còn treo cờ tam sắc của Pháp. Riêng học trò Trường Quan sáng Thứ Hai vẫn tập họp trong sân trường trước cột cờ chỗ hồ nước có tấm bia vẽ hình Thống chế Pétain và hát bài “Maréchal, nous voilà…” Năm đó Thống chế Pétain lập Chính phủ Vichy bù nhìn theo Đức và Nam Kỳ ta là thuộc địa nên theo Thống chế Pétain…Ở Gò Công hình như chỉ còn hai viên chức người Pháp: Chánh Tham biện Ropion và tên cò “mà tà” Lefort.
Đầu năm 1945 biến chuyển nhanh…
DINH CHÁNH THAM BIỆN
NIÊN BIỂU
1945
Ngày 9 – 3 – 1945, quân đội Nhựt đứng ra đảo chánh lật đổ chủ quyền của người Pháp và trên nước Việt Nam lại thấy quan Nhựt thay thế quan Pháp trong những địa vị cao cấp: Toàn quyền, Khâm sứ, Thống đốc, Đô trưởng…
Ở Nam Kỳ các tỉnh thì tỉnh trưởng người Việt lên thay thế. Tại tỉnh Gò Công lúc bấy giờ ông Phủ Nguyễn Văn Hải (không phải ông Đốc phủ Nguyễn Văn Hải chồng bà lớn Huỳnh Thị Điệu, ông nầy đã mất năm 1940) thay Chánh Tham biện Ropion do sự thỏa thuận của chánh quyền Sài Gòn.
Thế là vào ngày 9 – 3 – 1945, Dinh Chánh Tham biện thấy lần cuối cùng ông Chánh người Pháp. Không có tài liệu để thống kê kể từ 1885 là năm cất cái dinh nầy đến lúc đó có tất cả bao nhiêu ông Chánh người Pháp cự ngụ ở trong Dinh và qua Tòa Bố (inspection) bên phía Tây để làm việc.
Kể từ cái mốc 9 – 3 – 1945 đó, Dinh Chánh Tham biện được chuyển thành Dinh Tỉnh trưởng …
Năm 1985 UBND Huyện Gò Công Đông nhận giấy báo của Pháp do Sở Tạo Tác thuộc Bộ Hải Quân Pháp yêu cầu giới chức Gò Công ngưng sử dụng cái Dinh dành cho quan Chánh Tham biện xưa nữa vì Dinh đã đến hạn 100 năm, khi xây cất 1885 đã dự trù như thế. Cũng nhờ văn kiện nầy ngày nay ta biết được năm tạo tác cái dinh thự đồ sộ nầy là năm 1885.
Từ năm 1985 Dinh không còn sử dụng về hành chánh nữa. Dinh dứng nhìn thời gian trôi đã hơn 20 năm rồi.
Hình ảnh lộng lẫy ngày xưa nay già nua…
Niên biểu Dinh Chánh Tham Biện Gò Công được bắt đầu từ năm 1862 và chấm dứt ở năm 1945 nầy
JAN. 11, 08
PTS
HÌNH CUỐI DINH CHÁNH THAM BIỆN GÒ CÔNG
VỀ CÁC TẤM HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ
Tôi tìm được các tấm hình xưa hồi thời Pháp, chụp các năm 1940 về trước, phần nhiều là rút ra từ các tập ảnh của nhà Photo Nadal Sai Gon.
Về Gò Công xưa tôi tìm được 12 tấm (nhiều người cũng tìm được). Tôi đã lần lượt giới thiệu 8 tấm. Riêng tấm thứ 6 là Dinh Chánh Tham biện, vì bản thân cái dinh là một chứng tích của sự hiện diện của Pháp từ năm 1862 đến năm 1945. Năm 1945 chính viên Chánh Tham biện người Pháp cuối cùng phải từ giả cái dinh để nó lại cho Gò Công, nên tôi đã dừng lại nói về cái dinh nầy nhiều và có hệ thống bằng loạt bài
NIÊN BIỂU DINH CHÁNH THAM BIỆN
Từ niên biểu đầu 1864 đến niên biểu cuối 1945 dài cũng 80 năm, một loại sử lươc biên niên của vùng đất nhỏ nhoi, quê hương tự nhiên tôi không quyền lựa chọn và tôi yêu hai chữ Gò Công chỉ sau hai tiếng Việt Nam Tôi tiếp tục giữ “hương” giữ “sắc”cho quê cha đất tổ.
Còn 4 tấm hình và tôi sẽ lật tấm thứ 9….
GÒ CÔNG NGÀY CŨ
HÌNH THỨ 9
SỞ ĐOAN VÀ CÔNG XI
HÌNH THỨ 9
TÊN GHI CHÚ DƯỚI TẤM HÌNH:
Douanes et Régies
Tên đầy đủ là Administration des Douanes et Régies.
Tiếng Việt là Sở Đoan (Thương chính) và Công Xi
VỊ TRÍ:
Từ 1940, người dân Gò Công gọi tòa nhà nầy là Kho Muối và toàn khu tòa nhà nầy tọa lạc gọi là Kho Muối. Tức nhiên gọi Kho muối cũng có nguyên do, nhưng Tây cất tòa nhà nầy để thu thuế thương chính và phân phối vật phẩm của công xi.
Khu Kho Muối giờ người dân vẫn còn gọi như vậy, lấy đoạn đường từ Nhà thương cao cẳng chạy lên Cầu Cây làm trục Nhà cửa bênBắc bên Nam của đường trục nầy gọi là khu Kho Muối. Gọi như thế từ năm 1940 đến giờ.
Tòa nhà rộng 3 gian chánh và 2 gian phụ, cất một lượt với các công sở khác sau năm 1924 là năm Gò công được tái lập tỉnh. Từ ngã tư Góc Nhả thương cũ đi theo con đường giờ là đường Nguyễn Huệ nối dài phía Tây, ta gặp liền bên phải là Nhà thương cao cẳng, nay thành khu nhà 3 từng, tới nữa chừng 50 thước ta sẽ thấy Kho Muối bên tay trái. Kho muối hay tòa nhà trong hình giờ không còn hình dáng gì nữa mà thành các nhà riêng..
Khu Kho Muối tên gọi dân gian nay là Khu Phố 4 Phường 1 và được biết Khu Kho Muối xưa chỉ là phần phía Bắc của Khu Phố 4 đông dân ngày nay.
Còn dân Gò Công gôi là Kho Muối vì các năm 1940, kinh tế suy thoái, Tây ngoài chức năng “thương chính” còn chứa muối để phân phối và dự phòng…
HÌNH SỞ THƯƠNG CHÍNH VÀ CÔNG XI
LỊCH SỬ
Như tên gọi Douanes et Régies ta biết là nhà Đoan tức thu “thuế thương chính” như nghĩa bây giờ thu các sắc thuế có buôn bán muối, nông phẩm, hải sản v.v.
Riêng các loại “thuốc phiện”, “rượu”, “giết mổ” Tây không để cho dân tự cung cấp mà lập các Régies người dân lúc đó gọi là “Công Xi”.
Chữ Régie giờ nghĩa không rõ ràng ít sử dụng còn xưa chỉ cơ quan thu thế gián thu. Rõ ràng thời Tây lập các Régies “giết mổ”, “á phiện” và “rượu kéo”. Cho tới các năm 1954, lò giết mổ heo dân gọi là “công xi heo” sau gọi cho gọn là “lò heo”. Ngày nay “lò heo” không còn ở chỗ cũ nhưng địa vẫn còn. Nếu người dân nghe nói “công xi heo” thì không ai cho là có gì quan trọng, nhưng nghe đến hai công xi khác, hồi xưa đã thấy rụng rời.
Régie d’Opium: Công xi Á phiện độc quyền nhà nước Tây bán á phiện công khai cho dân chúng. Tại chợ Gò Công trước 1945 có một đại lý bán Á phiện của Công xi, tấm bản hiệu nhỏ chỉ ghi đơn giản “RO”. Người dân “nhạy” lắm nói “hút á phiện” kéo ro…ro.
Hồi xưa ai cũng biết, hút á phiện là một tệ nạn “tửu sắc tài khí” “tứ đổ tường”. “Khí” là mây khói, gọi hút á phiện là “đi mây về gió”. Hút á phiện khi “nghiện” dân Gò Công gọi là “ghiền” thì thân hình ốm nhom, so vai, rút cổ, mặt bủn da chì, môi thâm. Tác hại vô cùng !
RO - RÉGIE DE L'OPIUM
HÌNH MỘT NGƯỜI DÂN BẢN XỨ CHUẨN BỊ BÀN ĐÈN TRONG TIỆM HÚT THUỐC PHIỆN - FUMERIE
TÂY BIẾT TÁC HẠI CỦA Á PHIỆN MÀ ĐẦU ĐỘC DÂN TA
Tây cho khai thác bán á phiện ở các thuộc địa mà cấm ở mẩu quốc. Xin đọc đoạn nầy:
Extraits - réédition de 1949 - 227 pages
Différence entre la France et l’Indochine
L’Opium
" En France, posséder une fumerie ou quelques grains d’opium vous expose à l’intrusion de la police, à la prison car il est criminel d’abartadir la race française. Mais ici l’opium se vend à guichets ouverts et rapporte chaque année environ 15 millions de piastres à la régie française, qui en garde le monopole "
Các trích đoạn – tái bản năm 1949 – 277 trang
Sự khác biệt giữa nước Pháp và Đông Dương
Á Phiện
“Ở nước Pháp, khai thác một tiệm hút hay chỉ giữ một vài viên á phiện sẽ bị cảnh sát đến xử lý, bị kết tội tù vì phạm tội làm hư đồi giống nòi Pháp. Nhưng ở đây (các xứ Đông Dương) được bán ở các quầy công khai và đem lại mỗi năm lối 15 triệu đồng bạc (nên nhớ lúc đó 30 đồng bạc mua được một mẩu ruộng – PTS) về cho Công Xi Pháp, giữ độc quyền bán á phiện” (thuốc phiện – PTS)
Đã giới thiệu hình một người bản xứ sửa soạn bàn đèn và sẽ đề cập đến RA (nhắc ại RO bán á phiện để kéo “ro..ro”. Còn RA là gì?
RA
RÉGIE DE L’ALCOOL
Ở Sở Thương Chính và Công Xi Gò Công có một bộ phận quan trọng đó là Công xi rượu. Công xi rượu cung cấp rượu, dân gọi là rượu công xi bán công khai kể cả bắt buộc. Dân Gò Công dân nghiện rượu có khi cả đời không thèm uống rượu công xi. Nhưng dù sao có một thời có rượu công xi tại Gò Công. Ta tìm hiểu:cũng từ các bài trích bằng tiếp Pháp nêu kỳ trước:
L’Alcool
" La France contrôle également le commerce de l’alcool. Cet alcool grossier, mail distillé, contient des substances nocives qui nous débilitent, nous empoisonnent... "
Extrait d’un arrêté préfectoral du 28 août 1934 :
" Le préfet ordonne que, dans le territoire de sa circonscription qui comprends six cantons, il sera consommé chaque mois 6200 litres d’alcool.(...) Les villages devront venir acheter cet alcool et en prendre livraison au chef lieu de la préfecture et rendre compte ensuite de ce qu’ils auront vendu ou consommé ; les villages qui auront consommé beaucoup seront récompensé et les villages qui auront peu consommé ou vendus seront punis. "
RƯỢU
“Nước Pháp dồng thời cũng kiểm soát việc buôn bán rượu. Chất rượu cồn thô, chưng cất không đúng mức, qua loa, chứa nhiều tạp chất lạ làm hại sức khỏe con người cả đầu độc con người…”
Trích một Quyết định cấp Quận đề ngày 28 – 8 – 1934:
“Quận trưởng lịnh rằng, trong phạm vi hành chánh quận gồm 6 tổng (riêng Gò Công có 5 tổng, để so sánh số phải tiêu thụ rượu công xi – PTS), phải tiêu thụ mỗi tháng 6200 lít rượu (công xi). Các làng phải đến mua rượu nầy, nhận rượu tại quận lỵ và báo cáo lập tức số rượu đã bán hay tiêu thụ, làng nào tiêu thụ nhiều sẽ được thưởng còn những làng tiêu thụ bán ít sẽ bị phạt”
HÌNH MỘT LÒ RƯỢU CỦA NGƯỜI TÀU CUNG CẤP RƯỢU
DISTILLERIE DE CHOUM-CHOUM TENUE PAR UN CHINOIS
"RA" Ở GÒ CÔNG
Đọc đoạn trên ta biết đó là một quận của một tỉnh lớn Nam Kỳ. Còn riêng Gò Công dù là một tỉnh nhỏ không có quận chỉ có 5 tổng 40 làng nên số lượng rượu tiêu thụ phải bán lớn hơn nhiều.
Khổ nỗi, rượu công xi đối với dân thì quá nhẹ mùi không thích hợp, mua phải nguyên lít giá lại mắc. Dân chỉ thích uống rượu cất lậu, mua từ “xị”.cũng được.
Rượu Gò Công cất từ nếp độ rượu cao, mùi lại thơm, giá lại rẻ hơn rượu công xi. Làng ép dân mua rượu công xi vì không ai mua. Nơi bán rượu công xi có treo bảng RA. Cũng như RO là Công xi Á phiện thì RA là công xi rượu. Dân nói mua rượu RA uống vô một chút đả cho RA rồi. Còn rượu đế tức rượu lậu bị cấm ngặt lắm. Nói là cấm ngặt vì nấu rượu lậu bị dò xét truy lùng gắt gao; bắt được tịch thu cả nồi ống cất còn bị phạt nặng. Tây phải tuyển nhân viên làm “tào cáo” tức một loại “agent de la Régie d’Alcool” không khác nào “lính kín” ngày nào cũng xuống làng tìm bắt rượu lậu,… mà đâu xuể. Dân có nghề cất rượu sinh sống không dễ gì bỏ ló nấu nên cứ lén lúc tìm chỗ kín đáo cất rượu, khi cất phải “ém khói”, người chỉ điểm luôn rình mò đi báo làng hay tào cáo nơi nấu rượu lậu để lảnh thưởng. Chuyện bán rượu công xi không còn quan trọng mà chuyện nấu rượu lậu mới là chuyện “gian nan, khổ ải” mà bỏ nghề không được. Gia đình nghèo nấu rượu lậu bị bắt bị tịch thu nồi ống phải đợ con mua nồi ống khác ra đồng, ra chòi, xa chòm xóm mới mong qua mắt được bọn tào cáo…
TÁC GIẢ HUỲNH MINH
KHO MUỐI
“Nằm mút đường Huyện Nguơn ngó ra Rạch Gò Công là một tòa nhà đồ sộ khá xinh đẹp: Ty Thương Chánh (Douanes et Régies), mà người dân Gò Công kêu là Kho Muối vì hồi trước nơi đây người Pháp buộc nhân dân phải chở muối về đóng thuế rồi mới được đi bán. Người Pháp cai quản Ty nầy được đặt tên riêng là “tào cáo” (do tiếng “tài cẩu”, chó lớn, của người Tàu mà ra). Nội danh hiệu nầy đủ tả người Việt vừa sợ vừa ghét Tây nhà đoan là dường nào, bởi nghề nghiệp của chúng chuyên làm khó dễ dân, tìm bắt những dân nghèo vì quá nghèo phải làm và bán chút đỉnh muối và rượu lậu thuế.
Trước kho muối, tại mé sông có một cái bến đúc xi măng nhô ra ngoài sông khá xa, để cho ghe thuyền cập bến, nay vẫn còn.”
Trên đây là một đoạn trong sách viết khá chính xác. Năm viết 1970 cách nay mới 37 năm. Giờ tất cả đổi thay, nếu không phải là người Gò Công cố cựu đọc rồi đi tìm không biết cái Kho Muối xưa nay ở đâu?
Cái nhà đồ sộ khá xinh đẹp giờ ở đâu?
GÒ CÔNG NGÀY CŨ
HÌNH SỐ 10
CHỢ VĨNH LỢI
CHỢ VĨNH LỢI
MARCHÉ DE VINH LOI
VỊ TRÍ
Hình chụp trong các năm trước 1926 của nhà PHOTO NADAL, Sài Gòn
Chợ của làng Vĩnh Lợi xưa còn gọi là Chợ Giồng hay biết cội nguồn thì gọi Chợ Giồng Ông Huê.
Chợ Giồng làng Vĩnh Lợi xưa nay vẫn còn và gọi là Chợ Vĩnh Bình vì giờ thuộc xã Vĩnh Bình.
Chợ ngó ra mặt kinh, thời Pháp gọi là Kinh Vĩnh Lợi.
Kinh Vĩnh Lợi nguyên là con Rạch Giồng có vàm sông từ Cửa Tiểu là Vàm Giồng rồi chảy qua các làng Vĩnh Hựu, Vĩnh Lợi, Vĩnh Trị xuống nối liền với Rạch Gò Công sau khi qua Cầu Long Chánh, chiều dài Kinh là 18.100 mét và năm đào là năm 1874 (theo Địa phương chí Gò Công năm 1936)
Phía nam của chợ lối trăm thước có cây cầu sắt, vị trí nay vẫn còn, đi qua để ra đường lộ dây thép, quẹo phải xuống chợ Gò Công và quẹo trái đi lên Chợ Gạo lên Mỹ Tho.
Trước mặt chợ là Hương lộ số 7 (1936) chạy từ Gò Công Chợ Mới Yên Luông Đông Đông cập bờ nam Kinh Vĩnh Lợi qua Vĩnh Trị qua Vĩnh Lợi đến Vàm Giồng dài 18.000 mét.
LÀNG VĨNH LỢI
Gọi là chợ Vĩnh Lợi vì trước năm 1954 đây là làng Vĩnh Lợi. Về lịch sử thì làng Vĩnh Lợi được biết như sau:
Năm 1756 là năm mà miền đất Lôi Lạp của Thủy Chân Lạp được sáp nhập vào nước ta. Chúa Nguyễn cho nhập vào tổng Kiến Hòa, châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tổng KIến Hòa rộng mênh mông trong đó có miền đất dân gọi là Khổng Tước Nguyên (Gò Công) nên năm 1784 – 1788 đạo quân của Võ Tánh khi chưa về với Chúa Nguyễn Ánh được gọi là Đạo quân Kiến Hòa và cờ của Võ Tổng Nhung có 4 chữ “nho” Khổng Tước Nguyên Võ.
Những năm đầu nầy chưa có địa danh thôn là Vĩnh Lợi
Sau khi thống nhất đất nước năm 1808 cải tổ gọi toàn miền Nam là Gia Định Thành gồm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Vĩnh Trường và Hà Tiên. Đồng thời các tổng đều nâng lên thành huyện. Tổng Kiến Hòa thành huyện Kiến Hòa, một huyện của trấn Vĩnh Trường. Huyện Kiến Hòa có 2 tổng là tổng Kiến Thạnh và tổng Hòa Bình. Đại khái tổng Hòa BÌnh gồm miền đất sau nầy là toàn tỉnh Gò Công.
Tổng Hòa Bình có tất cả là 86 thôn (thôn hồi đó có khi chỉ bắng một ấp bây giờ) và có thôn Vĩnh Lợi mới lập số thứ tự 20.
Thôn Vĩnh Lợi lập từ năm 1808 vậy.
Qua đời vua Minh Mạng, Nam Kỳ được chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ lục tỉnh. Vào năm 1831, một phần đất huyện Kiến Hòa được tách ra làm Huyện Tân Hòa, thuộc phủ Kiến An tỉnh Định Tường. Từ năm 1836 nầy vùng đất Gò Công xa rời Huyện Kiến Hòa và nằm trong huyện Tân Hòa
Đến đời vua Thiệu Trị nguyên niên 1841, vua tách một phần đất của huyện Tân Hòa (trọn vùng Gò Công) để lập thêm huyện mới Tân Thạnh và đem hai huyện Tân Hòa (giờ chỉ còn là Gò Công phía Đông) và huyện Tân Thạnh (đó là Gò Công phía Tây) thành một phủ Hòa Thạnh thống thuộc tỉnh Gia Định. Vậy năm 1841, thôn Vĩnh Lợi thuộc huyện Tân Thạnh. Nói thêm từ năm 1841 (cho đến 1852) lỵ sở tức Dinh phủ Hòa Thạnh đặt tại thôn Đồng Sơn (cũng là một thôn của huyện Tân Thạnh), nên Đồng Sơn được gọi là “Chợ Dinh”.
Đến đời vua Tự Đức năm thứ 5 năm 1852, vua Tự Đức xóa bỏ phủ Hoà Thạnh, sáp nhập huyện Tân Thạnh vào huyện Tân Hòa thành một huyện lớn gọi là huyện Tân Hòa thuộc phủ Tân An (phủ Tân An hồi đó là tỉnh Gò Công và tỉnh Tân An thời Pháp) thuộc tỉnh Gia Định.
Vậy bắt đầu từ năm 1852 miền Gò Công trọn vẹn được gọi là Huyện Tân Hòa. Lỵ sở đặt tại thôn Thuận Ngãi. Thôn Thuận Ngãi nằm phía nam Rạch Cửa Khâu và thôn Thuận Tắc phía bắc sau nầy là làng Thành Phố thời Pháp.
Từ năm 1852 thôn Vĩnh Lợi trở lại thuộc huyện Tân Hòa chung.
Từ năm 1862 Tây chiếm huyện Tân Hòa và vẫn giữ nguyên vùng đất huyện Tân Hòa cũ lập thành Hạt Gò Công rồi tỉnh Gò Công cho tới 1954 – 1956.
Từ năm 1864 Tây chia hạt Gò Công thành 37 làng (thời Pháp không gọi thôn mà gọi là làng (village) thuộc 4 tổng:
Hòa Đồng Thượng – Hòa Đồng Hạ
Hòa Lạc Thượng – Hòa Lạch Hạ
Thôn Vĩnh Lợi thành làng Vĩnh Lợi thuộc tổng Hòa Đồng Hạ, và bắt đầu sung túc nhứt trong tổng chỉ thua làng Thành Phố (tỉnh lỵ) của tổng Hòa Lạc Hạ
Đến năm 1924, Gò Công trở lại thành tỉnh sau 24 năm (1899 – 1923) làm quận Gò Công của tỉnh Mỹ Tho.
Tỉnh Gò Công mới không có quận và tách lập thêm 1 tổng Hòa Đồng Trung từ hai tổng Hòa Đồng Thượng và Hòa Đồng Hạ gồm 20 làng. Làng Vĩnh Lợi là làng đứng đầu đặt tổng Hòa Đồng Trung gồm các làng có chữ Vĩnh là Vĩnh Lợi, Vĩnh Viễn, Vĩnh Hựu, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Trị thêm Yên Luông Đông, Yên Luông Tây, Bình Công và Long Chánh.
Năm 1955, không còn Pháp nữa, tỉnh Gò Công được cải tổ lập 2 quận. Đó là quận Châu Thành và quận Hòa Đồng. Đồng thời tổng Hòa Đồng Trung được bãi bỏ, sáp nhập một phần vào tổng Hòa ĐồngThượng và một phần vào tổng Hòa Đồng Hạ.
Làng Vĩnh Lợi nhập với làng Bình Phú Tây lập thành xã Vĩnh Bình và đứng đầu trong 9 xã của tổng Hòa Đồng Thượng.
Đến đây vĩnh viễn không còn 2 chữ Vĩnh Lợi nữa.
Thôn Vĩnh Lợi (từ năm 1808) qua làng Vĩnh Lợi (từ năm 1864) rồi bị nhập tên từ năm 1955.
Ngôi đình cũ thôn rồi làng Vĩnh Lợi được biết thờ sắc thần Vua tự Đức ban năm thứ 5 (1852)
GÒ CÔNG NGÀY CŨ
HÌNH SỐ 11
NHÀ VIỆC LÀNG ĐỒNG SƠN

NHÀ VIỆC LÀNG ĐỒNG SƠN
MAISON COMMUNALE – DONG SON
VỊ TRÍ
Cũng trích từ tập ảnh của nhà PHOTO NADAL SAIGON, các năm trước 1926.
Nhà việc làng Đồng Sơn. Đây là nhà việc tức nơi làm việc của Ban Hội tề làng Đồng Sơn thời Pháp Thuộc (1864 – 1954). Đây là nhà việc to lớn và đẹp đẻ nhất trong tỉnh Gò Công
LỊCH SỬ
Làng Đồng Sơn là vùng lưu dân người Việt dừng chân lập nghiệp sớm nhứt (trước cái mốc 1756 cho đến các năm 1698 nhiều năm) trong toàn miền Gò Công. Cũng có cơ sở vì miền nầy nằm trên Rạch Lá thông với Sông Tra. Sông Tra là thủy đạo thông với Sông Mỹ Tho để dân Việt có thể từ vùng Mỹ Tho xuống, và Sông Tra ăn thông với sông Soai Rạp để dân Việt từ miền Trung có thể vào cửa sông Soai Rạp đến Bao ngược rồi thì có thể theo sông Tra đến vùng Đồng Sơn hay tẻ vào sông Gò Công để đến Thuận Ngãi và Thuận Tắc tức Chợ Gò Công sau nầy. Pháp năm 1863 tập trung các tàu để đánh nghĩa quân Trương Định ở Gò Công cũng đưa tàu đến Đồng Sơn rồi từ đây triển khai đội hình hai cánh. Cánh quan trọng qua Sông Tra vào Rạch Gò Công mở trận đánh chính yếu vào chợ Thuận Ngãi và tổng hành dinh Sơn Qui của nghĩa quân. Cánh thứ nhì trở ra sông Cửa Tiểu đánh vào Trải Cá lên Cửa Khâu ra chợ Gò Công khiến nghĩa quân tiêu hao phải rút về Gia Thuận. Năm sau 1864 tàu Pháp cũng xuất phát từ Đồng Sơn đến Gia Thuận và chính tên Đội Tấn từ tàu dẫn lính mã tà lên bờ bao vây trú điểm của Trương Định và hạ Trương Định rạng ngày 20 –08 – 1864.
Và cũng từ năm 1864 làng Đồng Sơn được thành lập cùng với 4 làng khác Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Thạnh Nhựt tất cả là 5 làng lập thành Tổng Hòa Đồng Thượng. Gò Công thời nầy chỉ có 4 tổng.
Đến năm 1924 là năm Gò Công trở lại là tỉnh lần thứ nhì (xem phần làng Vĩnh Lợi) tách các làng của Hòa Đồng Hạ lập thêm một tổng là Hòa Đồng Trung. Làng Đồng Sơn vẫn đứng đầu trong tổng Hòa Đồng Thượng gồm 5 làng cũ.
Đến năm 1956, hành chánh Việt, Đồng Sơn vẫn còn tên và là xã Đồng Sơn. Qua năm 1964 rồi 1975, xã Đồng Sơn vẫn còn tên đến ngày nay, trong khi làng Vĩnh Lợi sáp nhập với Bình Phú Tây thành Vĩnh Bình đến ngày nay.
GÒ CÔNG NGÀY CŨ
NHÀ VIỆC LÀNG ĐỒNG SƠN
Nhà việc làng Đồng Sơn thời Pháp thuộc cũing là lị sở của Tổng Hoà Đồng Thượng (gồm 5 làng: Bình Phú Đông, Bình Phục Nhì, Bình Phú Tây, Thạnh Nhựt và Đồng Sơn), bề thế lẫm liệt nhất ở tỉnh Gò Công cũ, sau 1945 không còn nữa, chỉ còn lưu lại di ảnh như trên.
CHỢ DINH
Dù tên làng hay xã Đồng Sơn và ngày nay là xã Đồng Thạnh nhưng đối với người dân thì cái tên xưa nhiều người còn nhớ gọi khi nói đến Đồng Sơn. Đó là Chợ Dinh. Chợ Dinh không những chỉ cái chộ làng Đồng Sơn mà là nơi xưa hơn, vai trò lịch sử nổi bật đầu tiên trước cả Chợ Gò sau nầy
Nhớ từ năm 1841, Thiệu Trị nguyên niên, vua cho tách phần phía tây của huyện Tân Hòa (nguyên ả miền Gò Công) lập huyện mới là huyện Tân Thạnh (tức Gò Công phía Tây). Huyện Tân Hòa (lúc nầy chỉ là Gò Công phía Đông) cùng huyện Tân Thạnh lập thành Phủ Hòa Thạnh (xem phần làng Vĩnh Lợi). Dinh Phủ Hòa Thạnh đặt tại Đồng Sơn, nên gọi là Chợ Dinh. Chợ Dinh không phải chỉ riêng cái chợ mà rộng ra vùng có cái chợ, như Chợ Gò là vùng nội thị Gò Công.. Năm 1852, toàn Phủ Hòa Thạnh trở lại làm huyện Tân Hòa. Và năm 1852 Chợ Dinh không còn là Dinh Phủ nữa, nhưng dân vẫn nhớ tới chợ Dinh.
“Chợ Dinh bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim”
Đây là câu ca dao nói về cái Chợ Dinh chung chung nhưng cũng có thể về Chợ Dinh Gò Công thời Pháp (1863) vây đánh nghĩa quân Trương Công Định, không phải nói về chuyện bán buôn bình thường mà ngầm ý hoàn cảnh đặc biệt gì đó của một thời…ẩn khuất.
LÀNG ĐỒNG SƠN
CHỢ DINH
"CHỢ DINH BÁN ÁO CON TRAI
CHỢ TRONG BÁN CHỈ, CHỢ NGOÀI BÁN KIM"
HÌNH NGÔI CHÙA VIỆT
PAGODE ANNAMITE
KHÔNG THỂ XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ, NHƯNG GỢI NHỚ NGÔI CỔ TỰ
"LONG THOÀN BỬU TỰ" LÀNG HÒA NGHỊ SẼ GIỚI THIỆU
Chùa Phúc KiếnNGÔI "LONG THIỀN CỔ TỰ"
MỚI CẤT CÁC NĂM 1980 TRÊN NỀN CHÙA BÀ HUYỆN XƯA

CHÙA BÀ HUYỆN
Trước 1975, dân chợ Gò Công và ở các xã An Hòa, Phước Trung, Tăng Hòa, Tân Thành nói đến chùa Bà Huyện thì ai cũng biết vị trí. Biết vị trí vì chỉ thấy cây dầu cao và bên cây dầu là dí tích đổ nát củ của ngôi chùa đổ, trước1945. Cây dầu cao là cái mốc của làng Tân Duân Đông rồi xã An Hòa (1975) và giờ là xã Bình Nghị.
Ngôi chùa xưa có tên là Long Thòan Bửu Tự, kiến trúc kiên cố, hoa mỹ, tham bác cả kiểu xưa và nay. Năm 1945, chùa bị phá để ngừa quân Pháp chiếm làm đồn bót.
Chùa hướng mặt ra Kinh Salicetti có cây dầu cao. Sau chùa có ngôi mộ xây bằng đá hoa cương to lớn chôn người cất ngôi chùa là bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn nhủ danh là Dương Thị Hương.
Bà là một trong 3 người đàn bà nổi danh, giàu có nhất Gò Công thời 1864 đến 1945:
- Mẹ Bà Trần Thị Sanh vợ trước ông Dương Tấn Bổn được biết là Bà Hầu của Trương Công Định
- Con gái: Bà Dương Thị Hương , bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn, dân gọi
Bà Huyện
- Cháu ngoại: Bà Huỳnh Thị Điệu, bà Đốc phủ Nguyễn Văn Hải, dân gọi là Bà Lớn
BÀ HUYỆN HUỲNH ĐÌNH NGUƠN
Bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn được ba phía nổi tiếng. Thứ nhứt bà là con của bà Trần Thị Sanh là bà hầu của Trương Công Định lúc chống Pháp (1862 – 1864). Thứ hai bà là vợ của ông Huỳnh Đình Nguơn có chức Huyện thời Pháp, nên ông được gọi là ông huyện Ngươn và bà là Bà Huyện Nguơn. Thứ ba, thay chồng chết sớm 1895, trong 30 năm tới năm 1925 bà làm giàu thêm gia sản để phân chia cho các con họ Huỳnh Đình. Nói về gia sản thì Bà Dương Thị Hương thừa hưởng nhiều lắm, từ cha và mẹ của bà là ông Dương Tấn Bổn (chồng trước bà Sanh) và bà Sanh khi bà Sanh mất năm 1882 để lại cho bà là con gái duy nhất còn lại trong 9 người con trai gái của ông Bổn và bà Sanh. Riêng chồng bà là ông Huyện Nguơn cũng thuộc gia đình giàu có ruộng đất nhiều. Hai ông bà huyện sống với nhau trên 30 năm đã cùng làm gia tăng điền sản. Năm 1897 bà Huyện làm bản tương phân gia sản cho các con họ Huỳnh. Mở đầu bảng tương phân bà Huyện Dương Thị Hương viết: (nguyên văn và nguyên cách viết chữ Việt, cách nay 110 năm)
Gò Công - Tổng Hoà Lạc Hạ, Làng Thành Phố
Dương thị Hương đứng
Làm tờ tương phân, nguyên ông bà tôi có để lại cho cha mẹ tôi; cha mẹ tôi sinh được chín nguời con mà đả chết hết tám người còn có một mình tôi mà thôi. Khi cha tôi qua đời thì tôi đang còn nhỏ, mẹ tôi nuôi dưởng tôi lớn khôn, gả tôi cho Huỳnh đình Nguơn; đến khi mẹ tôi qua đời thì gia tài ruộng đất của mẹ tôi để lại, có văn bằng chứng cớ rõ ràng, đều thuộc về tôi đứng bộ làm chủ: từ ấy vợ chồng tôi nhờ dư huệ mà gầy dựng thêm ra nửa mới nên sự nghiệp.
Còn vợ chồng tôi làm bạn cùng nhau sinh được mười lăm đứa con: tám trai bảy gái mà đả chết hết mười đứa, nay còn lại năm đứa mà thôi: hai trai ba gái: con gái lớn là Huỳnh thị Nử, con trai trưởng nam là Huỳnh đình Hạo, con trai thứ nam là Huỳnh đình Ngân, con gái thứ nữ là Huỳnh thị Ngởi và Huỳnh thị Điệu, cả năm đứa đều lớn khôn và đủ đôi bạn.
Nay chồng tôi cũng qua đời rồi, tan chế đả mảng, còn tôi thì già yếu, chẳng biết sống thác ngày nào nên tôi nhờ bổn tộc và làng làm tờ tương phân gia tài ruộng đất nhà phố cho các con tôi:…..”
Làm tại Thành Phố Gò Công, tám bổn,
Ngày 12 tháng giêng năm Đinh dậu
Le 13 février , 1897
Dương Thị Hương thủ ký
BÀ HUYỆN HUỲNH ĐÌNH NGUƠN
(TIẾP)
Tờ tương phân nầy rất quí về nhiều mặt lắm có liên quan đến bà Sanh, đến họ Trần, họ Huỳnh Đình, đến cả ông bà Đốc Phủ Hải.
Trong tờ nầy, Bà Huyện Nguơn, chia tài sản làm sáu phần: Năm phần thực chia đều cho năm con trai gái và đặc biệt “Phần Thanh Minh Tỉnh Tảo”, để năm chi của con ăn luân phiên mà cúng giỗ, trước hết là cha mẹ bà là ông Duơng Tấn Bổn và Bà Trần thị Sanh, một phần để cúng 8 người anh em của bà (điều nầy cho biết trước bà Huyện Ngươn tức Dương thị Hương bà Sanh có sanh ít nhất là một con trai trước bà Hương), một phần để cúng mười người con đã chết của bà (cách viết cũng cho biết con gái lớn của bà là Huỳnh thị Nữ sanh năm 1867 còn có một người chị, vậy người chị nầy phải sanh năm 1865 hay 1866, vậy bà Hương phải có chồng năm 1865, do tôi suy ra như ở trên), rồi một phần để giỗ chồng bà là ông Huyện Ngươn, và phần sau cùng là để thờ bà, khi tới đời cháu nội ngoại thì bà ghi là giao cho các con của Huỳnh thị Điệu ăn hưởng để giỗ bà. Như vậy, lúc sinh tiền bà Huyện Ngươn rất hợp với con gái út Huỳnh thị Điệu đã gả cho Nguyễn văn Hải. Ngay miếng đất mà ông bà Đốc phủ Hải cất ngôi nhà lớn năm 1909 sau nầy là do bà Huyện Ngươn đặc biệt chia ở phần thực, ghi như sau:
“Về phần thực của Huỳnh thị Điệu trong miếng đất thổ trạch 0 ha,35 a, 00 ca tại làng Thành Phố (miếng đất nầy Bà Huyện Nguơn mua của Huỳnh công Miêng ngày 18-4-1889), tôi có cất một toà nhà ngói 3 căng 2 chái cây cam xe có đủ nhà bếp nhà lẩm và trong nhà đều có đủ đồ từ khí và vật dụng thì tôi cũng cho phần Huỳnh thị Điệu luông theo miếng đất” .
Bà định giá phần thực có nhà nầy chung là 4.000 đồng (tờ tương phân định giá mỗi mẩu ruộng là 30 đồng).Nhờ đoạn nầy mà ta biết nhà ông bà Phủ Hải cất trên đất bà Huyện Ngươn mua của Hai Miêng năm 1889, không phải cơ ngơi của bà Trần thị Sanh dể lại như trên phóng sự của một đài Truyền hình tỉnh Vỉnh Long lân cận. Bà Sanh mất năm 1882. Đọc hết tờ tương phân ta thấy ngay khi bà Sanh còn sống cũng mua thêm ruộng và đồng thời bà Huyện Nguơn cũng mua thêm ruộng đất và mua rất nhiều.
Ông Huyện Huỳnh Đình Ngươn (Nguyên cải thành) mất năm 1893, mộ phần hiện ở Giồng Cát, xã Long Hòa, Thị xã Gò Công. Sau nầy cũng tại chợ Gò Công có tên đường Huyện Nguơn chạy ngang ngôi nhà cũ của ông bà!
Ông Huyện Ngươn sở dĩ có tên đường vì sinh thời tính tình ông hào phóng cũng hay giúp đở dân đen, làm thơ văn cũng rất hay các thi hữu trong và ngoài vùng mến phục.
Còn việc ruộng đất đều do bà Huyện lo toan. Năm bà làm tờ tương phân thì gia sản bà đã gồm ruộng là 1.160 mẩu, đất là 45 mẩu, tài sản nhà cửa 15.600 đồng. Tất cả định giá là 51.626 đồng (xin lưu ý giá 1 mẩu ruộng là 30 đồng, mẩu đất 25 đồng).
Về già, thực ra mới trên 50 tuổi, ông huyện Ngươn đã mất, bà lo chuyện đời sau nên cất một ngôi chùa lớn trên phần đất của bà thuộc làng Tân Duân Đông. Ngôi chùa nguy nga nhưng vẻ cổ kính đồ sộ nhất vùng Gò Công tên là Long Thoàn Bửu Tự, nhưng dân chúng cho đến ngày nay gọi là Chùa Bà Huyện. Sau Bà Huyện Ngươn mất, được chôn bên chùa, mộ cũng nguy nga, bên cây dầu bây giờ là cổ thụ vươn cao ngất trời xanh.
Ngôi nhà mà bà trí làm nhà thờ họ Huỳnh đình nay chỉ còn lưu dấu căn nhà ngang và căn nhà dưới hiện do ông Diệp Lưỡng tục gọi ông Sáu Lưỡng người thợ máy giỏi nay già, đối diện cổng Bịnh viện cũ ở.. Còn 2 mẩu đất khuôn viên cũ phía sau nhà chạy tận ra đến bờ kinh nay toàn người dân lạ đến ở mấy trăm ngôi thành khu phố. Người ở chắc chưa bao giờ chạnh lòng hoài cổ!
Ngôi chùa Bà Huyện ở Giồng Nâu, làng Tân Duân Đông, tổng Hòa Lạc Hạ, Gò Công, sinh thời bà cất để khi mất bà được an táng gần bên để nghe kinh thì đã bị đốt năm 1945 vì bắt đầu giặc giả. Ngôi mộ đồ sộ của bà Huyện may cũng còn các thầy ở chùa chăm sóc.
Chỉ cây dầu vẫn còn nhưng nay ở ngoài chu vi chùa mới, không cao ngất nữa vì các năm sau 1945 một viên đạn “mortier” đã phang cụt ngọn dầu, cây dầu cố vươn nhưng đâu bằng hồi xưa! Nay, dù sao bà Huyện còn dư phước hơn con gái út là bà Phủ Hải, nắm xương tàn hai ông bà Phủ Hải tại Nền Bông Gò Tre đã thiêu tro cuối năm 2006!.
Jan. 25, 2008
PTS
Bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn
nhủ danh Dương thị Hương
(1843 – 1933)
Bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn sanh năm 1843 là con gái duy nhất còn lại trong chín người con của Bà Trần thị Sanh và ông Dương Tấn Bổn. Đây cũng là một điểm mới phát hiện vì các sách sử về Trương Công Định khi đề cập đến Bà Sanh đều nói hoặc là bà thôi chồng vì không có con trai, chồng theo vợ bé! (Khởi nghĩa Trương Định của PGS. TS Nguyễn Phan Quang TS Lê Hữu Phước), hoặc là goá chồng trẻ tuổi xinh đẹp v.v. Nay xin nghe Bà Huyện Nguơn viết về cha mẹ anh em trong bảng Tương phân gia sản lập năm 1897. Tôi may mắn thấy được do một người có liên hệ với cháu cố bà Hương, tôi sao chụp và phát hiện ra nhiều điều liên hệ đến việc phát triển làng Thành Phố. Gọi là Tờ tương phân nhưng lập trên 9 tờ giấy khổ lớn viết hai mặt, giấy đăng ký mua mỗi tờ 15 cents (15 chiêm). Mở đàu như sau, lưu ý đây là chữ quốc ngữ năm 1897, viết có sai hơn bây giờ, tôi sao y:
Gò Công - Tổng Hoà Lạc Hạ, Làng Thành Phố
Dương thị Hương đứng
Làm tờ tương phân, nguyên ông bà tôi có để lại cho cha mẹ tôi; cha mẹ tôi sinh được chín nguời con mà đả chết hết tám người còn có một mình tôi mà thôi. Khi cha tôi qua đời thì tôi đang còn nhỏ, mẹ tôi nuôi dưởng tôi lớn khôn, gả tôi cho Huỳnh đình Nguơn; đến khi mẹ tôi qua đời thì gia tài ruộng đất của mẹ tôi để lại, có văn bằng chứng cớ rõ ràng, đều thuộc về tôi đứng bộ làm chủ: từ ấy vợ chồng tôi nhờ dư huệ mà gầy dựng thêm ra nửa mới nên sự nghiệp.
Còn vợ chồng tôi làm bạn cùng nhau sinh được mười lăm đứa con: tám trai bảy gái mà đả chết hết mười đứa, nay còn lại năm đứa mà thôi: hai trai ba gái: con gái lớn là Huỳnh thị Nử, con trai trưởng nam là Huỳnh đình Hạo, con trai thứ nam là Huỳnh đình Ngân, con gái thứ nữ là Huỳnh thị Ngởi và Huỳnh thị Điệu, cả năm đứa đều lớn khôn và đủ đôi bạn.
Nay chồng tôi cũng qua đời rồi, tan chế đả mảng, còn tôi thì già yếu, chẳng biết sống thác ngày nào nên tôi nhờ bổn tộc và làng làm tờ tương phân gia tài ruộng đất nhà phố cho các con tôi:…..”
…………………………………………………………
……………………………………………………….
Làm tại Thành Phố Gò Công, tám bổn,
Ngày 12 tháng giêng năm Đinh dậu
Le 13 février, 1897
Dương thị Hương thủ ký (bằng chữ Hán)
Các con trai gái đồng ký:
5 người thủ ký bằng chữ Hán
Bổn tộc làm chứng Duơng Tấn Đặng thủ ký
Trần Ngọc Nhuận thủ ký (bằng chữ Hán)
Làng Thành Phố chứng 3 vị:
Hương Thân, Hương Hào
và Thôn trưởng ký bằng chữ Quốc Ngữ)
(Mộc vuông làng Thành Phố)
Vu (kiến thị) . Le Chef de Canton (Cai tổng);
Ký tên Lê Quang Thứ
(Mộc vuông Tổng Hoà Lảc Hạ, chữ Pháp và chữ Nho)
Trong hai mộc nầy đều có chữ Nôm Gò Công
( ) với nghĩa Gò Chim Công.
Rồi phần do Tham biện tỉnh Gò Công ký tên, đóng mộc tỉnh Gò công, với biên lai thuế trước bạ là 258 đồng ba mươi chiêm. (theo tờ nầy, lúc đó định giá mỗi mẩu ruộng là 30 đồng). Nội tiền thuế trước bạ cuối cùng là gần tiêu mười mẩu ruộng, đủ biết gia sản Bà Huyện lớn nhường nào)
Tờ tương phân nầy rất quí về nhiều mặt lắm có liên quan đến bà Sanh, đến họ Trần, họ Huỳnh Đình, đến cả ông bà Đốc Phủ Hải , rồi do các mộc mà biết rõ làng Thành Phố và ý nghĩa địa danh Gò Công, như từng trình bày
Trong tờ nầy, Bà Huyện Nguơn, chia tài sản làm sáu phần: Năm phần thực chia đều cho năm con trai gái và đặc biệt “Phần Thanh Minh Tỉnh Tảo”, để năm chi của con ăn luân phiên mà cúng giỗ, trước hết là cha mẹ bà là ông Duơng Tấn Bổn và Bà Trần thị Sanh, một phần để cúng 8 người anh em của bà (điều nầy cho biết trước bà Huyện Nguơn tức Dương thị Hương, bà Sanh có sanh ít nhất là một con trai trước bà Hương), một phần để cúng mười người con đã chết của bà (cách viết cũng cho biết con gái lớn của bà là Huỳnh thị Nữ sanh năm 1867 còn có một người chị, vậy người chị nầy phải sanh năm 1865 hay 1866, vậy bà Hương phải có chồng năm 1865, do tôi suy ra như ở trên), rồi một phần để giỗ chồng bà là ông Huyện Nguơn, và phần sau cùng là để thờ bà, khi tới đời cháu nội ngoại thì bà ghi là giao cho các con của Huỳnh thị Điệu ăn hưởng để giỗ bà. Như vậy, lúc sinh tiền bà Huyện Ngươn rất hợp với con gái út Huỳnh thị Điệu đã gả cho Nguyễn văn Hải. Ngay miếng đất mà ông bà Đốc phủ Hải cất ngôi nhà lớn năm 1909 sau nầy là do bà Huyện Nguơn đặc biệt chia ở phần thực, ghi như sau (nguyên văn):
“Về phần thực của Huỳnh thị Điệu trong miếng đất thổ trạch 0 ha,35 a, 00 ca tại làng Thành Phố (miếng đất nầy Bà Huyện Nguơn mua của Huỳnh công Miêng ngày 18-4-1889), tôi có cất một toà nhà ngói 3 căng 2 chái cây cam xe có đủ nhà bếp nhà lẩm và trong nhà đều có đủ đồ từ khí và vật dụng thì tôi cũng cho phần Huỳnh thị Điệu luông theo miếng đất” .
Bà định giá phần thực có nhà nầy chung là 4.000 đồng (tờ tương phân định giá mỗi mẩu ruộng là 30 đồng).Nhờ đoạn nầy mà ta biết nhà ông bà Phủ Hải cất trên đất bà Huyện Nguơn mua của Hai Miêng năm 1889, không phải cơ ngơi của bà Trần thị Sanh dể lại như trên phóng sự của một đài Truyền hình tỉnh Vỉnh Long lân cận. Bà Sanh mất năm 1882. Đọc hết tờ tương phân ta thấy ngay khi bà Sanh còn sống cũng mua thêm ruộng và đồng thời bà Huyện Nguơn cũng mua thêm ruộng đất và mua rất nhiều. Ngay cả bây giờ người ta! cũng nói là nhà Bà Phủ Hải là do bà Trần Thị Sanh để lại (1)....
MỘ BÀ HUYỆN NGUƠN
PHÁT THẢO KHU MỘ BÀ HUYỆN NGUƠN
BÊN CHÙA CÂY DẦU GIỒNG NÂU
ÔNG HUỲNH ĐÌNH NGUƠN
(? - 1893)
Ông Huyện Ngươn sở dĩ có tên đường vì sinh thời tính tình ông hào phóng cũng hay giúp đở dân đen, làm thơ văn cũng rất hay các thi hữu mến phục. Còn việc ruộng đất đều do bà Huyện lo toan. Năm bà làm tờ tương phân thì gia sản bà đã gồm ruộng là 1.160 mẩu, đất là 45 mẩu, tài sản nhà cửa 15.600 đồng. Tất cả định giá là 51.626 đồng (xin lưu ý giá 1 mẩu ruộng là 30 đồng, mẩu đất 25 đồng). Về già, thực ra mới trên 50 tuổi, ông huyện Ngươn đã mất, bà lo chuyện đời sau nên cất một ngôi chùa lớn trên phần đất của bà thuộc làng Tân Duân Đông. Ngôi chùa nguy nga nhưng vẻ cổ kính đồ sộ nhất vùng Gò Công tên là Long Thoàn Bửu Tự [1], nhưng dân chúng cho đến ngày nay gọi là Chùa Bà Huyện. Sau Bà Huyện Ngươn mất, được chôn bên chùa, mộ cũng nguy nga, bên cây dầu bây giờ là cổ thụ vươn cao ....
Bà Huyện Nguơn trong tờ tương phân không bao giờ nhắc đến chuyện giỗ chạp Trương Công Định, chồng sau của mẹ bà! Bà mất, dòng hai người con trai và cả hai người con gái trong ba người của Bà qua vài đời thì gia sản phân tán, tuy không suy sụp nhưng chìm trong nhiều lớp “người mới” vươn lên. Ngôi nhà mà bà trí làm nhà thờ họ Huỳnh Đình nay chỉ còn lưu dấu căn nhà ngang và căn nhà dưới hiện do ông Diệp Lưỡng tục gọi ông Sáu Lưỡng người thợ máy giỏi nay già, đối diện cổng Bịnh viện cũ.. Còn 2 mẩu đất khuôn viên cũ phía sau nhà chạy tận ra đến bờ kinh nay toàn người dân lạ đến ở mấy trăm ngôi thành khu phố. Người ở chắc chưa bao giờ chạnh lòng hoài cổ!
Ngôi chùa Bà Huyện Giồng Nâu, sinh thời bà cất để khi mất bà được an táng gần bên để nghe kinh thì đã bị đốt năm 1945 vì bắt đầu giặc giả. Ngôi mộ đồ sộ của bà Huyện không người chăm sóc. Chỉ cây dầu vẫn còn vươn cao! Nay (2005), dù sao bà Huyện còn dư phước hơn con gái út là bà Phủ, nắm xương tàn vợ chồng đã thiêu tro...
2002
GHI CHÚ: Người Gò Công đều biết đường và kêu trúng tên đường HUYỆN NGUƠN (chữ "u" chứ không phải "ư", Vietkey làm tài lanh sửa Nguơn thành Ngươn !
DANGPHUONGNAM
Sửa viết lại ngày
Oct.14, 2008
[1] Năm 1945, chùa bị đốt trong tiêu thổ kháng chiến, nay trên nền cũ cất ngôi chùa mới nhỏ hơn dáng vẻ tân thời, đặt tên lại là "Long Thiền cổ tự"!, mộ bà Huyện Nguơn vẫn còn đồ sộ nhưng cây cối mọc quanh rậm rạp. Cây dầu vẫn vẫn còn vượt trời cao!
VÌ SAO GỌI TRƯỜNG QUAN ?
VÌ QUA CẦU QUAN ĐẾN TRƯỜNG !
VÌ SAO NÓI "CÓ NƯỚC SALICETTI" ?
VÌ TRƯỚC TRƯỜNG LÀ KINH SALICETTI !
Dễ thương, các câu thơ nhắc lại:
CẦU QUAN VÀ NƯỚC SALICETTI
Chiếc cầu sắt “không lắc lẻo như cầu tre”, bắc qua con Kinh Salicetti, mà người cha (cha nhiều hơn mẹ trong thời đó) lần đầu tiên đắt con trai hay con gái đi học đều qua cầu để đưa con đến trường : con đi học.
Nhớ trước, chiếc cầu sắt Tây bắt xong đặt tên là cầu Albert Sarraut. Dân khó kêu tên Tây và thấy cầu sắt dẫn thẳng đến cổng lớn dinh quan Chánh Tham Biện nên gọi là Cầu Quan. Nói thêm để đủ bộ cầu trên kinh Salicetti : Cầu Huyên phía Đông hơi xa và cầu sắt nhỏ ở giữa là Cầu Phủ; Quan, Phủ, Huyện.
Tôi có viết 2 bài : “Những chiếc cầu trên dòng kinh Salicetti” và “Các dinh thự phía Bắc kinh Salicetti”, đăng lần lượt trong hai Đặc san Xuân 2005 và 2007 của Hội Cựu Giáo chức TXGC để nhớ xưa có con kinh Salicetti chảy qua nội thị Gò Công và hãnh diện (lẻ loi nhưng không thành công). Tôi có viết “Tây ghi trên bản đồ là Arroyo Salicetti của làng Thành Phố như con sông Seine với 32 chiếc cầu chảy qua thủ đô Paris của nước Pháp”. Tôi từng thấy con kinh hai năm 1942 và 1943 đẹp ơi là đẹp vì còn cả 3 chiếc cầu sắt bắc ngang. Còn đúng là Kinh Salicetti trước khi Tây vô là con rạch thiên nhiên tên chữ Hán là Khâu Giang (rạch Cửa Khâu) phân chia huyện lỵ Tân Hòa phía Bắc là thôn Thuận Tắc, phía Nam là thôn Thuận Ngãi. Sau các năm 1868, Tây vô cho vét rạch sâu thêm, mở rộng ra, kè đá phần kinh qua nội thị và gọi tên Tây như trên. Năm 1943 Tây cho dở Cầu Quan, đắp 2 con đập làm đường. Khúc kinh được 2 đập chận cải tạo thành Piscine (hồ tắm), vài chục năm trước vẫn thấy còn hình dáng.
Bỏ Cầu Quan nhưng vẫn giữ cho thủy đạo thông suốt phần kinh Salicetti phía Đông từ Cầu Huyện chảy qua Cửa Khâu ra sông Cửa Tiểu, Tây cho đào con kinh mới mặt Nam chợ Gò Công và bắc hai cầu đúc lên Yên Luông và bên Lò Heo nên dân gọi là Kinh mới Cầu Đúc. Đoạn kinh nầy chưa bao giờ gọi là kinh Salicetti cả.
TRƯỜNG QUAN VÀ KINH SALICETTI
Không phải chỉ một mình tôi, người học trò xưa của trường Quan, viết và nói trường Quan ngó ra Kinh Salicetti.
Người bạn làm thơ cũng viết
Trên đường khai tâm khai trí của Trường Nam
Có nước Salicetti làm bạn vàng nối khố.
Thêm chị Trần Thành Mỹ, viết bài Trường Nữ Tiểu học Gò Công thời 40, đăng ở Đặc san của Hội Cựu Giáo chức Thị xã Gò Công Xuân Ất Dậu 2005. Mở đầu chị viết
Chỉ cách nhau một con đường, hai trường Nam Nữ Tiểu học xưa nhất Gò Công cùng nhìn về một hướng, kinh Salicetti trước mặt xuôi dòng. Trái hẳn với Trường Nam cổ kính, đồ sộ sừng sửng như pháo đài, bao quanh bằng các bức tường kiên cố, trường Nữ thật yểu điệu rụt rè với dãy nhà trệt hình chữ L… Hai căn thấp đơn sơ lợp thiếc Cao Bằng dành cho lớp Chót, lớp Tư. Lớp Ba đến lớp Nhứt, Tiếp liên đặc biệt được học trên các phòng có nền cao, tường sơn vàng nhạt, mái ngói đỏ, lót gạch bông với hành lang rộng. Hàng cột dài dẫn đến Văn phòng có lầu nhìn sang trường Nam khắc khổ, nghiêm trang…
Ở trên tôi nói bài thơ ký tên lạ, nhưng đọc trọn bài thơ tôi thở dài : Người làm bài thơ nầy từng là bạn học thời Trường Quan, cũng có thể từng làm thầy giáo Trường Nam Piscine với tôi (thời chúng tôi làm thầy giáo không còn Cầu Quan nên gọi như thế cũng hợp)
Chị Mỹ và anh bạn làm thơ nếu đúng là bạn quen thì đều lớn hơn tôi một tuổi.
Chúng tôi đều viết : Salicetti có dòng nước chảy qua Trường Quan.
Đáng lẽ bây giờ không còn gì là Kinh Salicetti trong nội thị nữa, nhưng sao trên tấm panneau công trình Nam đường Trương Định, con kinh mới Cầu Đúc được ghi: Kênh Salicette (sic!)
VĂN PHÒNG TRƯỜNG QUAN
Từ năm 1942 đến 1945, học trò thường thấy ông Đốc học Huỳnh Văn Hai và Thanh tra liên tỉnh Truchet đứng trên thềm cửa Văn phòng nầy giờ ra chơi...
NHỚ THU NĂM MẬU TÝ ... CÓ LỚP TIẾP LIÊN A
TRƯỜNG QUAN GÒ CÔNG
PHẦN I
Tháng 6 năm 1948 (năm Mậu Tý) chúng tôi học trò cuối lớp Nhất (Cours Supérieur), trường Nam Tiểu học Gò Công, được gọi là Trường Quan, thi đậu bằng CEPCI, Certificat d'Études Primaires Complémentaires Indochinoises, dịch sang tiếng Việt không chính xác mấy là bằng Sơ học Pháp Việt, đáng lẽ phải gọi là bằng Sơ học Đông Pháp, có giá trị chung ba nước Đông Dương thuộc Pháp, Việt Miên Lào. Được bằng nầy chúng tôi phải học qua 6 lớp, ba lớp bậc Sơ đẳng gồm Đồng Ấu, Dự bị, Sơ đẳng và ba lớp bậc Sơ học, lớp Nhì năm Một, lớp nhì năm Hai và lớp Nhất. Các lớp bậc Sơ học chỉ có ở Tỉnh lỵ Gò Công. Năm đó chỉ có 4 lớp Nhất, Cours Supérieur, ở trường Nam và một lớp Nhất ở trường Nữ, gồm trên hai trăm học trò. Số đậu bằng Sơ học trên trăm rưởi. Các học trò rớt lối ba bốn mươi. Số rớt, nhiều học trò học lại lớp Nhất, năm sau thi lại. Ít có học trò thi rớt về nhà nghỉ vì đã mất nhiều năm học rồi.
Những học trò có bằng Sơ học được giới thiệu con đường học vấn tiếp tục là có thể thi tuyển vào học trường trung học Sài Gòn hay Mỹ Tho. Ở Sài Gòn là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký dành cho nam, Collège Gia Long dành cho nữ. Còn Mỹ Tho có Collège de Mỹ Tho.
Còn có một trường trung học Sư Phạm Nam Việt tại Sài Gòn gọi tên Tây là École Normale Primaire, tương đương bậc Trung học đệ nhất cấp. Học trò chúng tôi lúc đó ít ai biết, trường nầy thi vào cũng gay go, toàn miền chỉ lấy 100 khóa sinh, normaliens(nes), học bốn năm, vừa học chương trình trung học bốn năm vừa học sư phạm. Cuối năm thứ tư phải thi tốt nghiệp có bằng Khả năng sư phạm tiểu học và thi cả bằng Thành Chung. Đậu cả hai bằng, được bổ đi dạy làm Giáo viên ngạch Tiểu học, lương cao và trình độ dạy tới lớp Nhất. Nếu thi rớt bằng Thành Chung, cũng được bổ làm Giáo viên ngạch Sơ Cấp, luơng thấp hơn, dạy các lớp Sơ Đẳng. Thật chua xót thiệt thòi cho những thầy cô giáo ngạch nầy. .
Tương lai của chúng tôi là các trường như thế. Quá gay go! Dân Gò Công gần như chỉ để ý đến việc cho con em lên Sài Gòn học, thời đó ít nghĩ tới lên Mỹ Tho.
Còn tiếp ...
BỨC HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ
BỨC HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ.
Trong bài Những Dinh thự, Công thự bên bờ Bắc SALICETTI, có đoạn nói về Nhà tư của Phó Tham biện tỉnh Gò Công trước 1945 như sau:
TOÀ NHÀ PHÓ THAM BIỆN
Toà nhà Phó Tham biện là toà lầu có kiến trúc đặc trưng Pháp, nhỏ chỉ bằng một phần tư dinh Chánh Tham Biện, toạ lạc phía sau và phía đông của cây da Nhà Đốc học. Toà lầu ngó ra đường chạy dọc bờ Bắc Kinh Salicetti. Bên phải phía Đông Toà nhà ông Phó có con lộ từ bờ kinh đến trước cổng sân Vận động. Con đường sau 1954 bị bít. Bên Đông nữa là Trại và gia binh lính “gạc” Tây gọi là Caserne de la Garde Civile Locale. Khu nầy sau 1954 biến thành Trung tâm Cải huấn thế Đề lao hồi thời Tây.
Trở lại Nhà ông Phó, trước năm 1945 là tư dinh ông Phó người Pháp rồi người Việt. Năm 1945 dưới Chính quyền Việt Minh toà nhà nầy dùng làm Trụ sở Uỷ Ban Hành Chánh Kháng chiến tỉnh Trương Công Định, Gò Công. Sau 1954 toà lầu nầy là Bộ chỉ huy Tiểu khu Gò Công. Sau 1975, toà lầu thuộc Thị Đội.
Còn tiếp,,,
BỨC HÌNH NHÀ PHÓ THAM BIỆN (TIẾP)
Nay tình cờ trên Web có bạn người Gò Công đưa tấm hình nầy lên mà không nói rõ tấm hình nầy thuộc cơ sở nào ở Gò Công.
Thoạt mới nhìn tôi đã nhận ra ngay và bâng khuâng nhớ những ngày cũ.
Toà nhà nầy ngó về hướng Nam. Trước mặt là bờ lộ Bắc kinh Salicetti. Người chụp đứng trên đường lộ Nam kinh, tức là đoạn lộ từ nhà Bà Phước xuống Cầu Huyện, trước 1975 là đường Tổng Đốc Phương giờ là phần đường nối đường Hai Bà Trưng.Trong hình, nước kinh còn trong thấy bóng toà nhà, vậy phải chụp cảnh vật trước các năm 1975 khi dòng nước kinh còn ăn thông tới Cầu Huyện, có được nước lớn ròng. Sau đó người dân cất nhà hai bên bờ kinh lấn lòng kinh, chỗ Cầu Tây Ban Nha cạn ngăn nước không thay đổi lớn ròng nữa. Chỗ thấy nước người ta sẽ nuôi cá thả rau muống rồi lục bình bít chịt. Giờ thì mặt nước đã thành bãi đất trên 20 năm rồi…
Toà nhà nằm phía trong khu Thị đội, rồi bị triệt hạ xây toà lầu mới Và năm rồi tất cả đều phá bỏ thành khu đất trống đang chờ khu kiến trúc nào đó.
Đây là bức hình hiếm hoi về khu có ngôi nhà Phó Tham biện Gò Công xưa. Trước 1945 người ta có thể chụp hình, nhưng sau 1945 toà nhà được sử dụng làm khu quân sự. Vậy đâu có ai dám chụp hình. Vì ngó thấy từ bờ bên phiá Nam nên mới có tấm hình nầy
Sep. 11, 2008
PTS
ĐÌNH LÀNG ĐỒNG SƠN
ĐÌNH LÀNG ĐỒNG SƠN
May mắn nay vẫn còn nhưng hư hao nặng và giờ lại gọi là đình Đồng Thạnh vì nằm trên xã Đồng Thạnh tách ra từ làng và xã Đồng Sơn cũ.
Theo bài viết “Đình Đồng Thạnh: Kiệt tác văn hoá nghệ thuật đất Gò Công” của tác giả Thuỷ Hà đăng trên báo Ấp Bắc Tiền Giang ngày 5 – 9 – 2008 thì:
“Đình được trùng tu hoàn thành vào năm 1914 có lối kiến trúc kết hợp độc đáo phong cách Đông Tây và bản sắc văn hoá địa phương.
Đình được xây dựng trên nền cao 80 cm, lót gạch tàu, vách tường, 20 cột gỗ căm xe, 18 cột gạch; mái lợp ngói âm dương 3 lớp và ngói ống; tổng diện tích khoảng 476 m2, riêng phần nhà khách là nhà lầu.
Về tổng thể đình Đồng Thạnh (Đồng Sơn) được xây theo kiến trúc chữ “tam” bao gồm: Võ ca (nơi hát bội vào dịp kỳ yên), Chánh tẩm nơi thờ thần và Nhà khách nơi làng đến làm việc. Ba toà nối liền nhau.
Đặc sắc nhất của ngôi đình nầy là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn, tranh đắp nổi trên tường và tượng gốm trang trí cả bên trong và bên ngoài gồm tứ linh, tứ quí, bát tiên, cá hoá long và các loại trái cây ở địa phương như khế, khổ qua, mảng cầu ta…
Nét độc đáo riêng của đình Đồng Thạnh (Đồng Sơn) là yếu tố văn hoá Phật giáo được đưa vào đình thông qua hình ảnh các vị La Hán được đắp nổi bên dưới thân bờ nóc thượng lương…
TRên tường bao bọc Võ ca được trang trí 13 bức tranh đắp nổi bằng ô dước (cát, vôi, ô dước…) tả cảnh sinh hoạt trên đường phố, cảnh tàu thuyền ra vào cửa sông tấp nập hồi đầu Thế kỷ thứ 20…..”
Lệ cúng đình Đồng Thạnh vào ngày 16 và 17 tháng 3 âm lịch hằng năm
Hiện trạng đình còn lại phần Võ ca, toà Chánh tẩm và một phần Nhà tiệc; nhà khách không còn. Toà Chánh tẩm bây giờ lợp lại bằng fibro-ciment do trận cháy năm 1963 đã làm hư hết mái ngói. Đình bị hư hại nặng, vách nứt, mái dột cửa nẻo tạm bợ.
Đình cần tu sửa để giữ gìn kiến trúc văn hoá đình phưong Nam độc đáo tại Chợ Dinh, một thời phồn thịnh trong lịch sử Huyện Hoà Thạnh rồi chuyển thành Huyện Tân Hoà xưa (từ năm 1852). Cũng chính năm 1852 đời Tự Đức thứ 5, ngôi đình xưa của thôn Đồng Sơn được ban sắc thần “Thành hoàng bổn cảnh” cùng với mươi ngôi đình khác của vùng Gò Công….
Ngày 12 – 08 – 2008
PTS
BỨC HÌNH XƯA KHÁC….






















Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.