Huỳnh Minh
Cuộc thương thuyết ký kết hoà ước mồng 5 tháng 6 năm 1862 giữa Pháp và Việt phải trì hoãn, vì Hoàng đế Việt Nam không đành lòng giao nhượng vùng đất quê ngoại cho ngoại bang, nơi đây có nhiều mồ mả ông bà, nhiều di tích kỷ niệm thân yêu và sự mất còn liên hệ đến danh dự của Hoàng triều Nguyễn.
Những ngôi mộ này kiến trúc lối cổ xây bằng hồ ô dước nằm trên một giồng cát cao trông như hình con quy, chung quanh cây cối u huyền đầy vượng khí phải là nơi phát xuất bậc mẫu nghi trong thiên hạ, đất lành trổ sanh trái ngọt, đồng bào dân chúng tỉnh nhà cũng nhờ ảnh hưởng cuộc đất này mà phát đạt, nhiều người làm quan lớn, đúng với Địa linh trổ sanh Nhân kiệt.
Cảnh trí từ ngoài đường cái thẳng vô có một con lộ dài chừng 200 thước, bên trong có một đền thờ. Ở về mé bên phải có những ngôi mộ trước đầu có dựng bia đá cẩm thạch khắc ghi tên họ, ngày sanh và mất, chức tước của người an nghỉ dưới mồ.
Những ngôi mộ này ngoài ý nghĩa lịch sử và cũng là di tích đặc biệt của tỉnh Gò Công được bảo tồn từ trước đến nay.
Theo sử liệu cho biết thì bản Hoà ước, ký tại Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam triều, có một điều khoản quan trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thoả thuận như sau:
ĐIỀU KHOẢN 5.- Hoàng đế nước Nam nhìn nhận chủ quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:
- Phía Đông, đến biển Trung Hoa và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận).
- Phía Tây ranh giới vịnh Xiêm La.
- Phía Nam biển Trung Hoa.
- Phía Bắc nước Cao Miên và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận). Có cả thảy 11 ngôi mộ nhà họ Phạm, nằm trên địa phận làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và 3 ngôi mộ nhà họ Hồ ở trên địa phận làng Linh Chiểu Tây và Tân Mai tỉnh Biên Hoà, không ai được động phạm, đào xới, cải táng hay phá hủy.
Nhà nước cấp một sở đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một sở đất cũng rộng chừng ấy cho các ngôi mộ nhà họ Hồ. Huê lợi thâu được do hai sở đất này dành để giữ gìn các ngôi mộ và nuôi sống những gia đình lãnh trông nom các ngôi mộ này. Hai sở đất trên đây được miễn thuế; con em dòng dõi những gia đình này cũng được miễn thuế thân, làm xâu và đi quân dịch.
Năm ngôi mộ lớn nhà họ Phạm toạ lạc trên địa phận làng Tân Niên Đông cách Gò Công 5 cây số, đó là mộ của:
1) Phạm Đăng Dinh, nội tổ Phạm Đăng Hưng, sinh năm Bính Dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân Mùi (1776), hưởng thọ: 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần vua Tự Đức sắc phong Hàn Lâm Viện Chưởng Viện Học Sĩ tước Bình Thạnh Bá (Đệ tam đẳng Nam triều).
2) Phạm Đăng Long, cố ngoại vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Dinh, sanh năm Canh Tuất (1741), mất ngày 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810). Hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự Đức truy phong Tư Thiện Đại Phu (Nội vụ Thượng thơ) tước An Hầu thụy Trang Nghị Công (Đệ nhất đẳng).
3) Phan Thị Tánh, bà cố ngoại vua Tự Đức, vợ Ông Phạm Đăng Long mẹ của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Giáp Tý (1743) mất ngày Rằm tháng 9 Giáp Tuất (1841) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu Nhơn Đoan Khiết.
4) Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Long và Phạm Thị Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất Dậu (1764), mất ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825), làm Lễ Bộ Thượng Thơ dưới thời Minh Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự Đức truy phong Vinh Lộc Đại Phu Đức Quốc Công và tước Trung Nhã Công (Đệ nhất đẳng).
5) Phạm Thị Du, bà ngoại vua Tự Đức, vợ Phạm Đăng Hưng sanh năm Mậu Tý (1767) mất ngày 8 tháng 6 năm Tân Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy phong Nhất phẩm Đức Quốc Phu Nhân, thụy là Đoan Tử.
Trích ở tác phẩm Gò Công xưa và nay
Cuộc thương thuyết ký kết hoà ước mồng 5 tháng 6 năm 1862 giữa Pháp và Việt phải trì hoãn, vì Hoàng đế Việt Nam không đành lòng giao nhượng vùng đất quê ngoại cho ngoại bang, nơi đây có nhiều mồ mả ông bà, nhiều di tích kỷ niệm thân yêu và sự mất còn liên hệ đến danh dự của Hoàng triều Nguyễn.
Những ngôi mộ này kiến trúc lối cổ xây bằng hồ ô dước nằm trên một giồng cát cao trông như hình con quy, chung quanh cây cối u huyền đầy vượng khí phải là nơi phát xuất bậc mẫu nghi trong thiên hạ, đất lành trổ sanh trái ngọt, đồng bào dân chúng tỉnh nhà cũng nhờ ảnh hưởng cuộc đất này mà phát đạt, nhiều người làm quan lớn, đúng với Địa linh trổ sanh Nhân kiệt.
Cảnh trí từ ngoài đường cái thẳng vô có một con lộ dài chừng 200 thước, bên trong có một đền thờ. Ở về mé bên phải có những ngôi mộ trước đầu có dựng bia đá cẩm thạch khắc ghi tên họ, ngày sanh và mất, chức tước của người an nghỉ dưới mồ.
Những ngôi mộ này ngoài ý nghĩa lịch sử và cũng là di tích đặc biệt của tỉnh Gò Công được bảo tồn từ trước đến nay.
Theo sử liệu cho biết thì bản Hoà ước, ký tại Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam triều, có một điều khoản quan trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thoả thuận như sau:
ĐIỀU KHOẢN 5.- Hoàng đế nước Nam nhìn nhận chủ quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:
- Phía Đông, đến biển Trung Hoa và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận).
- Phía Tây ranh giới vịnh Xiêm La.
- Phía Nam biển Trung Hoa.
- Phía Bắc nước Cao Miên và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận). Có cả thảy 11 ngôi mộ nhà họ Phạm, nằm trên địa phận làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và 3 ngôi mộ nhà họ Hồ ở trên địa phận làng Linh Chiểu Tây và Tân Mai tỉnh Biên Hoà, không ai được động phạm, đào xới, cải táng hay phá hủy.
Nhà nước cấp một sở đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một sở đất cũng rộng chừng ấy cho các ngôi mộ nhà họ Hồ. Huê lợi thâu được do hai sở đất này dành để giữ gìn các ngôi mộ và nuôi sống những gia đình lãnh trông nom các ngôi mộ này. Hai sở đất trên đây được miễn thuế; con em dòng dõi những gia đình này cũng được miễn thuế thân, làm xâu và đi quân dịch.
Năm ngôi mộ lớn nhà họ Phạm toạ lạc trên địa phận làng Tân Niên Đông cách Gò Công 5 cây số, đó là mộ của:
1) Phạm Đăng Dinh, nội tổ Phạm Đăng Hưng, sinh năm Bính Dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân Mùi (1776), hưởng thọ: 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần vua Tự Đức sắc phong Hàn Lâm Viện Chưởng Viện Học Sĩ tước Bình Thạnh Bá (Đệ tam đẳng Nam triều).
2) Phạm Đăng Long, cố ngoại vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Dinh, sanh năm Canh Tuất (1741), mất ngày 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810). Hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự Đức truy phong Tư Thiện Đại Phu (Nội vụ Thượng thơ) tước An Hầu thụy Trang Nghị Công (Đệ nhất đẳng).
3) Phan Thị Tánh, bà cố ngoại vua Tự Đức, vợ Ông Phạm Đăng Long mẹ của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Giáp Tý (1743) mất ngày Rằm tháng 9 Giáp Tuất (1841) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu Nhơn Đoan Khiết.
4) Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Long và Phạm Thị Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất Dậu (1764), mất ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825), làm Lễ Bộ Thượng Thơ dưới thời Minh Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự Đức truy phong Vinh Lộc Đại Phu Đức Quốc Công và tước Trung Nhã Công (Đệ nhất đẳng).
5) Phạm Thị Du, bà ngoại vua Tự Đức, vợ Phạm Đăng Hưng sanh năm Mậu Tý (1767) mất ngày 8 tháng 6 năm Tân Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy phong Nhất phẩm Đức Quốc Phu Nhân, thụy là Đoan Tử.
Trích ở tác phẩm Gò Công xưa và nay
MỘ NGÀI BÌNH THẠNH BÁ PHẠM ĐĂNG DINH
(1657 - 1751). Thọ 95 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
MỘ NGÀI PHƯỚC AN HẦU PHẠM ĐĂNG LONG
( 1730 - 1798). Thọ 69 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.