Gò Công Văn Đàn 1940
VĂN THƠ GÒ CÔNG CŨ


Mở đàu nền Văn học học Gò Công đầu tiên là bài Tân Hòa Thắng Cảnh (1890) của ông Chủ sự Hình bộ Triều đình Huế ,Trần Đình Thiều. Ông Chủ sự Thiều là cháu gọi bà Trần Thị Sanh bằng cô ruột. Bài Tân Hòa Thắng Cảnh là bài “phú” bằng chữ Hán ca tụng các danh thắng của huyện Tân Hòa tức Gò Công cũ buổi giao thời Pháp đặt nền mống cai trị đất Nam Kỳ thuộc Pháp. Vì viết bằng Hán Văn nên bài phú nay không ai còn đọc hiểu được dù có âm ra chữ Quốc ngữ Việt. Kẻ ghi những dòng nầy ngậm ngùi cũng đành lưu lại bài phú thành dạng “cổ” nhớ buổi giao thời.

Nữa thế kỷ sau các con cháu của ông Chủ sự Thiều và các văn thi hữu ở Gò Công từ các năm 1940 lập Văn đàn Gò Công làm thơ Đường xướng họa nay thu góp cũng trên mấy trăm bài, cũng chỉ để làm kỷ niệm, ai biết ai hay?

Nay mở đầu trang văn học cũ, xin giới thiệu một bài thơ của một thi hữu Gò Công Văn đàn:

TẠ BẠN LÀNG VĂN

Thanh Trúc, Gò Công cánh nhạn liền,
Kể từ Văn tự kết nên duyên;
Nước mây ngàn dậm tình bầu bí,
Son sắt một lòng nợ bút nghiên;
Trí não dày công bồi dưỡng lẫn,
Tinh thần nặng mối cảm hoài riêng;
Cùng nhau những ước khi tương hội,
Dưới nguyệt trên hồ thưởng vị sen

NGUYỄN HUỲNH MAI
(1899 – 1972)

Đọc bài thơ thấy hương thoảng xa xưa như các bài thơ của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị. Văn Đàn Gò Công 1940 gồm những bài thơ như thế. Tập hợp rồi in, nghĩ có ai đọc chăng? Người Gò Công thời nay chắc chỉ nhớ có Gò Công Văn Đàn để tự hào! Làm sao đọc hiểu hết được những bài thơ của Văn Đàn vì mỗi bài thơ xuất phát từ một hoàn cảnh cụ thể của thời đó. Sự giao tiếp của thi hữu với nhau trong cảnh riêng mà thành tình nên thơ. Như bài thơ Đường trên ông Nguyễn Huỳnh Mai họa lại một bài thơ của thi hữu ở xa. Ông Nguyễn Huỳnh Mai là nhà nho, nhà giáo tân học, nhà thơ, nhà văn Gò Công có ngoại tổ là anh ruột ông Chủ sự Thiều, ông kết bạn chi lan với nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Pháp ở Thanh Trúc, Hà Tiên và làm thơ thù tạc, kẻ hậu sinh làm sao biết.

Và các bài thơ của Gò Công Văn Đàn 1940 trôi vào dĩ vãng.
Từ trang nầy người viết muốn ghi lại chuyện xưa trân trọng vậy!

PHAN THANH SẮC



VẠCH BÓNG NGƯỜI XƯA
VĂN HOÁ CHỮ NGHĨA THƠ VĂN

GÒ CÔNG VĂN ĐÀN - 1940

Nữ thi sĩ Manh Manh và nhà văn Hồ Biểu Chánh là những người gốc Gò Công có những đóng góp văn hoá cho cả đất nước. Giới văn học đương thời ngưỡng phục và hiện đại còn đánh giá cao. Sự nghiệp văn chương của hai người lưu trong văn học sử, Gò Công cũng hãnh diện.

Ngoài ra cũng còn những nguời địa phương vững nền tản nho học, thêm hấp thụ giáo dục Tây phương, lúc nhàn công việc hay hết công vụ về hưu, làm thơ và cùng nhau xướng hoạ. Rồi do vài vị xướng thành phong trào qui tụ được nhiều người, thành lập thành văn đàn lấy tên là Văn đàn Gò Công trong những năm cuối 1930 và đầu các năm 1940.

Mục đích của Văn đàn là kết bạn bè đồng chí hướng cùng nhau hưởng thú văn chương, mỗi tháng họp nhau một lần, thưởng thức hương trà, ngâm vịnh thư phú, cùng xướng hoạ thơ Đường. Các thi hữu ở quanh vùng và các tỉnh lân cận nghe tiếng rủ nhau đến giao du, trao đổi thi văn rất hào hứng.

Những vị gầy dựng văn đàn được biết như:

Ông Trần văn Quảng (1876-1944), Hội đồng Địa hạt Gò Công, cháu cố ông Trần văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng. Bà Phụng là cô ruột Đức Thái hoàng thái hậu Từ Dũ. Ông Hội đồng Quảng gọi bà Trần Thị Sanh bằng bà sáu, gọi ông Hình bộ Chủ sự Trần Đình Thiều là chú ruột, thuộc nếp thư hương, nên làm thơ phú rất đạt, các bạn thơ nể trọng mời làm chủ Văn đàn. Ông còn lưu lại vài thi tập, hiện do người con gái là Cô giáo Trần Thành Mỹ dạy Trung Học Gò Công hiện sống ở Belgium giữ.
Các thi hữu tích cực ở Văn đàn được biết như các ông Nguyễn Duy Dương, Dương văn Lời, Lê Bằng Ý, Thái Hoà, Quách văn Nghĩa, Phạm Đăng Thà, Thiên Kim Nguyễn văn Thắng, Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai, Trần văn Năng, Nguyễn Khánh Sở, Minh Hưng, Bà giáo Võ Kim Quyện v.v.

Ông Nguyễn Duy Dương có nhà cửa rộng rãi khang trang tại chợ Gò Công, dùng nơi hội hợp văn đàn.

Ông Dương văn Lời là một hào phú trước 1945 ở tại ngôi nhà lớn ngó qua rạp hát. Ông Lời đậu bằng Diplôme, làm hương chức hội tề làng Thành Phố, đến 1945 là hương cả. Khi Pháp trở lại Gò Công tháng 10-1945 ông bị nạn. Ông được biết là người nói tiếng Pháp rất giỏi, thuộc những từ chánh trong cuốn Từ điển Larousse đồ sộ tiếng Pháp.

Ông Lê Bằng Ý là Chánh án Toà Hoà Giải Gò Công, nhà ở sau Dinh Tỉnh trưởng.

Các ông Nguyễn Huỳnh Mai, Nguyễn văn Thắng, Nguyễn Khánh Sở, cô Võ Kim Quyện ông Trần văn Năng là các giáo học của Trường Quan tức Trường Nam Tiểu học Gò Công.

Ông Quách văn Nghĩa là điền chủ Đồng Sơn là rể lớn thứ ba của ông Trần văn Quảng, thường xuống chợ Gò Công họp Văn đàn.

Ông Phạm Đăng Thà là Hội đồng địa hạt, người Vĩnh Lợi, là cha của Tiến sĩ Phạm Đăng Thuật các năm trước 1970 có làm Tổng Giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân Học vụ Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn. Ông Hội đồng Thà kết nghĩa suôi cơ với ông Hội đồng Quảng, nhưng sau 1945 không thành.

PHAN THANH SẮC


TRÍCH NHỮNG BÀI XƯỚNG HỌA
CỦA HỘI TAO ÐÀN GÒCÔNG


Ðề tài: THI HỮU ÐỒNG TÂM

Kim Lan đầm thấm khí thanh đồng,
Son đỏ chưa đầy sắc đỏ không.
Thủ thiện chập chồng ân thuận võ,
Phụ nhơn thâm thía nghĩa hòa phong.
Tuy không đờn sáo mà vui chí,
Vẫn có văn chương đủ thưởng lòng.
Vội vã lộn giày mừng rước bạn,
Trọng vì tài đức nửa giao long.

Trần văn Quảng

Phỉ nguyền gặp lại bạn tâm đồng,
Sớm hỏi cố nhân phải nợ không?
Bủa đức ra nhơn nhuần thoại võ,
Tiềm hiền nhóm sĩ luận thuần phong.
Câu văn thâm thúy xem vui dạ,
Ðiệu phú thanh tao đọc thỏa lòng.
Xóc áo chưa rồi toan tiếp khách,
Trọng tài khởi phụng với đằng long.

Lê Bằng Ý



KHÓC QUAN HOÀI QUỐC CÔNG VÕ TÁNH

Người đã chết tiếng còn thanh
Võ Tánh đây là bực Vĩ Anh.
Giúp nước ngày lo đầy sáu khắc,
Phò vua đêm liệu trót năm canh.
Sống thời làm tướng phơi gan mật,
Thác lại hiển thần rạng chí linh.
Trăm trận tử sanh nào có nại,
Trước sau vẹn giữ tấm trung thành.

Dương văn Lời

Lửa hồng soi rạng khấp thiên thanh,
Sánh với lòng son bực tuấn anh.
Khẳn khái thờ vua lầu tám góc,
Cần cù giữ giặc trống năm canh.
Thí xe thắng nước cờ huyền bí,
Ðổi ngói lải vàng trí diệu linh.
Bia tháp cánh tiên trường qquốc sử,
Ngàn năm tạc để tiết trung thành.


Nguyễn Huỳnh Mai

CẢNH AO SEN

Rỡ rỡ sen buông nực những hương,
Dẩy đầy thanh tịnh cảnh hồ gương.
Gấm thêu trắng đỏ hoa quân tử,
Chất sạch sẵn nhờ nước tuyết sương.
Phảng phất gật đầu cười giởn gió,
Thung dung chặng mặt bóng chào gương.
Chữ nhàn mua mắc bao nhiêu cũng
Với bức đồ thơ hộp một trường.

Trần văn Quảng


Một cảnh ao sen nực mùi hương,
Bạch liên rỡ rỡ sáng như gương.
Thành cao gió tịnh sanh thêm ngó,
Nước bích đông đơm hướng lấy sương.
Nhạn trắng đậu xen nơi diệu xứ,
Ðêm thâm khó nhận thuở tà dương.
Yêm điềm thanh cảnh đầy phong thủy,
Cẩm tú giang san gẩm một trường.


Phạm đăng Thà


Tựa: ÐỀ TẶNG QUAN LỤC SỰ LÊ BẰNG Ý

Cốt cách như ông có mấy ai.
Làm quan thanh bạchcũng anh tài.
Ân nhà chan chứa ân ba gội,
Lộc phước dồi dào lộc phước dày.
Ðen đỏ sắc tình người sở thích
Ðá vàng lòng, thẻ bạc hằng ghi.
Mặt xanh một mực không xem trắng
Phương viện làm gương hướng đạo đài.

Trần văn Quảng


Ðạo vị trên đời gẫm ít ai
Khen ông mến đức chuộng nhơn tài.
Ðôi lời vàng đá ân tình nặng
Một bức trân châu phẩm giá dày.
Gà nếp sắc son bia tạc để
Cầm thơ duyên nợ sách còn ghi.
Thỏa lòng gặp gở người tri kỷ
Gió thuận đẩy đưa gió Tước-Ðài.

Lê Bằng Ý

SAIGON CẢNH CŨ

Xướng

Saigon sớm tối vẫn om sòm,
Ngán chỗ phồn hoa mắt biến dòm.
Nữ tú áo dài đi lượt bược
Nam thanh quần cụt nhắc cà nhom.
Cùng đường quan lộ người chen lấn,
Các ngõ công môn kẻ đứng khòm .
Mệt bấy tưởng đời danh với lợi,
Ðau bằng thi hữu thích say mòm.



Họa

Cũng không om cũng không sòm
Phải chỗ thì trông phải chỗ dòm.
Quân tử cũng bao giờ mạnh khoẻ
Thục nhơn đâu giống dạng nhòm nhom.
Nhường đường một bước không chen lấn
Giữ lễ nhiều khi cũng nổi khòm
Ảnh hưởng tinh thần trao xá lợi
Một may đắc quả khoẻ vui mòm.


Trần văn Quảng

Tây cống đề thơ tử vận sòm
Nghĩ ra cái cảnh cháng xem dòm.
Gái chưng dồi mốt thêm dồi phấn
Tiệm bán đủ đồ áo bịch nhom
Dập nẻo dọc ngang chen lấn lướt
Ðầy nơi thưa kiện đứng lòm khòm
Hồng trần dày dạn người say tỉnh
Suy nghĩ đôi canh chợt ngủ mòm.


Phạm đăng Thà

Nầy hởi ai kia chí đã sòm
Ðến đây tôi chỉ chỗ nên dòm
Rừng tre tha thướt cây giao ngọn
Khóm kiển cành thân gốc lộ nhòm.
Chén rượu thất hiền đong chẳng dứt
Cuộc cờ Trần Lão mãi lưng khòm
Thanh nhàn cảnh ấy quanh năm cũng
Thích chí duổi chân một giấc mòm.


Quách văn Nghĩa


GÁI THỦ PHẬN CHỜ LƯƠNG DUYÊN

Xướng

Không làm cho thẹn gái thanh xuân
Thủ hạnh chờ duyên dẫu TấnTần.
Gấm lót đường, chi sờn giá ngọc,
Bông phong nhụy, đợi xứng tùng quân.
Ðề thi hồng điệp xem ngoài vật
Sử phụng cầu loan mới phải phần.
Vốn quí nhà vàng đào thơ thớ,
Chín tầng khuê các hưởng lương nhàn.


Trần văn Quảng

TRUNG HIẾU TUYẾT TRINH

Trung hiếu phận trai món nhiệm mầu
Gái thì tiết hạnh gái để câu.
Nghĩa nhân trải mật đền cha chúa,
Trinh thuận nung gan thấu óc đầu.
Tế khổn vua ơn niềm trọng trách,
Chiêu phu giữ dạ mối phao cầu.
Ðinh ninh một mực sau như trước
Ðối đáp vuông tròn dễ nệ đâu.

Trần văn Quảng

Ngay thảo trai tua giữ đạo mầu
Nết na đoan chánh gái làm đầu.
Xuân thu trịnh trọng coi từ chữ,
Nữ tắc ân cần đọc mỗi câu.
Quân tử non còn in vẻ ngọc
Thuyền quyên song hiệp rạng gương châu.
Nước nhà ước đặng con dâu ấy
Rực rỡ giống nòi hưởng phước lâu.

Xuân Khôi NHM


Ðầu đề: MẸ GIÀ Ở CHỐN LỀU TRANH


HỌA NGUYÊN VẬN

Mẹ già đạm bạc chốn nhà tranh
Sớm tối châm nom dạ hộp đành
Dầu phải túp che vừng tóc trắng
Há lơi thảo đáp nghĩa mày xanh.
Tăng Sâm trọn đạo phong lưu vị
Tử Lộ đòi cơn nhiệt ý thành.
Thục thủy thừa quang nêu đức hoá
Vuông tròn trọng yếu bực phương danh.

Trần văn Quảng


Lụm cụm nhà huyên mái cỏ tranh
Thần hôn dạ trẻ dẫu chưa đành
Ngọt bùi dưới gối vui ngày trắng
Ấm lạnh bên giường nguyện tuổi xanh
Bèo bọt đền bồi công quí hoá
Mảy may báo đáp dức Khôn thành
Ðinh ninh một tấm lòng thương mẹ
Há dám vì đời tiếng hiếu danh.

Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai

CÁC BÀI HỌA KHÁC

Ðại phu chi hậu đáng lần theo
Qua đặng mấy đèo hay mấy đèo
Bát nhã đến vờ cười ngả ngớn
Trần ai không bợn khoẻ rền reo
Vô vi học hỏi gương đà Phật
Minh đức trao tria đạo Khổng Kheo
Tâm quảng thể bàn nuôi lấy chí
Quang minh bình đẳng có chi eo.


Trần văn Quảng


Chính trực vui lòng toại chí theo
Quản chi non núi quản chi đèo
Tiềm đường đạo đức tình thêm mến
Lánh nẽo thị phi mật tiếng reo.
Ðọc sách nhà nho sùng Khổng Thánh
Xem kinh cửa Phật học thiền Kheo
Sân trình gắn gổ tua lần bước
Noi chỗ thẳng bằng tránh chỗ eo

Nguyễn Duy Dương


Xin giới thiệu thêm một thi hữu của Văn đàn, ông Phạm Đăng Đàn, Hội đồng điạ hạt, thuộc chi Phạm Đăng, Thích lý thứ nhì ở xã Tân Niên Tây, có một bài thư về việc phá bỏ tháp Lảnh Binh Huỳnh Công Tấn ở Gò Công, tháng 10 – 1945. Bài thơ không phổ biến trong Văn Đàn vì thời cuộc.

Vinh hiển bao nhiêu, nhục bấy nhiêu
Cơ đồ Lãnh Tấn nhẹ như rều
Tấm thân chết mục nhơ chẳng mục
Núm tháp phá tiêu, hận chẳng tiêu
Bán nước mua danh đời ngạo báng
Quên nòi phản chủ chúng kêu rêu
Hởi ai đấy đấy làm gương đấy
Danh vọng càng nhiều nhục cũng nhiều



Phạm Đăng Đàn (Đoàn)

Ta thấy trước 1945, ở Gò Công ai ai cũng hận tên bán nước Huỳnh Công Tấn, cả những ông Hội đồng từng hợp tác với Tây.


PHAN THANH SẮC

http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=1
0 Responses

Post a Comment

Note: Only a member of this blog may post a comment.