Showing posts with label Đăng Trí. Show all posts
Showing posts with label Đăng Trí. Show all posts
Một số tranh của họa sĩ Đăng Trí

Trận sông Hát
1975
Tranh lụa, khổ 79x64 cm




Hội đêm
1980
Tranh lụa, khổ 51x82 cm




Sâu lắng
19845
Tranh lụa, khổ 50x74 cm




Bâng khuâng
1944
Tranh giấy gió, khổ 70x90 cm



Phụng vũ
1984
Tranh lụa, khổ 57x78 cm



Hài sen
1980
Tranh sơn dầu, khổ 60x80 cm




Lăng Tự Đức II
1976
Tranh sơn dầu, khổ 60x80 cm




Mùa thu
1975
Tranh lụa, khổ 49x82 cm




Người suối bạc
1945
Tranh giấy gió, khổ 54x100 cm




Mẩu đơn trắng
1982
Tranh lụa, khổ 56x72cm





Vũ khúc hoa sen
1983
Tranh lụa, khổ 60x90 cm






Đọc thêm!
Họa sĩ Phạm Đăng Trí





HỌA SĨ PHẠM ĐĂNG TRÍ


Giới thiệu cố Họa sĩ Phạm Đăng Trí, hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam.

Sinh năm 1921 tại Huế
Nguyên quán Gò Công
Cựu sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương - Hà Nội (1937 - 1942).
Nguyên:
- Giáo viên hội họa trường trung học Thuận Hóa Huế (1945 - 1946) và trường trung học Bồ Đề Huế (1955 - 1962).
- Giảng viên trường Cao đẳng Mỹ Thuật Huế (1963 - 1987).
- Ủy viên Ủy Ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam Bình Trị Thiên.
- Ủy viên Ban thư ký Phân hội Mỹ Thuật Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ thuật Bình Trị Thiên.
- Hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam.
- Mất năm 1987 tại Huế.







Người suối bạc Giấy dó (54 x 100 cm) 1945.




Mẫu đơn trang Lụa (56 x 72 cm) 1982





Sâu lắng Lụa (53 x 74 cm) 1985.




http://voque.org/index.php?option=com_content&task=view&id=621&Itemid=28






Đọc thêm!
Về bức chân dung Tổ sư Liễu Quán
Về bức chân dung Tổ sư Liễu Quán

Lê Quang Thái


Từ năm 1928 đến 1937, đề tài về Tổ sư Liễu Quán và ngôi bảo tháp của Ngài đã cuốn hút giới khảo cứu quan tâm luận bàn.
Điều minh chứng là qua tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H.), chúng ta có thể tìm thấy một loạt các bài viết về ngày viên tịch, quê quán của Tổ sư Liễu Quán và chất đá được chọn để dựng bia ở tháp của Ngài, trong đó có đăng bức chân dung toàn kim thân của Tổ mà ta thường thấy được tôn trí tại các chùa Việt Nam ở trong và ngoài nước hiện nay. Ở đây, chúng tôi xin đóng góp thêm mấy ý kiến nhỏ có liên quan đến bức chân dung này.

B.A.V.H, số 1 ra năm 1937, trong bài viết "Nutelettes" của Louis Sogny, có đăng bức chân dung của Tổ sư đính kèm phần chú thích ảnh ở dưới bằng tiếng Pháp: "Le Bonze Liễu Quán, portrait conservé dans la pagode Bửu Tịnh, au Phú Yên" (Chân dung Tổ sư Liễu Quán được lưu giữ trong chùa Bửu Tịnh, tỉnh Phú Yên).

Chi tiết vừa dẫn đặt ra cho chúng ta vấn đề như sau: Bức chân dung Tổ sư Liễu Quán mà Sogny đề cập trong B.A.V.H là một bản vẽ đen trắng, trong khi đó bức chân dung Tổ sư được tôn trí ở chùa Bửu Tịnh mà ta thấy hiện nay là một bức vẽ có nhiều màu. Nhìn trên tổng thể thì ta thấy nét vẽ pháp tướng của Tổ ở hai bức chân dung này không có gì sai khác. Nhưng ai là tác giả của bức chân dung đăng trong B.A.V.H? Nó được vẽ vào thời gian nào? Và ai là tác giả của bức vẽ có màu được hoạ lại sau này?


Chân dung Tổ sư Liễu Quán đăng trong tạp chí B.A.V.H

Về bức chân dung Tổ sư Liễu Quán được vẽ bằng hai màu đen trắng đăng trong B.A.V.H, thì cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy có tư liệu nào nói về bức hoạ này, cũng như cho biết ai là tác giả đã vẽ ra bức chân dung ấy. Nhưng theo chúng tôi, bức hoạ này rất có thể đã ra đời vào khoảng năm 1742, khi Tổ từ Thuận Hoá trở về Phú Yên. Trong khoảng thời gian này, do ngưỡng mộ đạo hạnh của Tổ sư mà một hoạ sĩ đã vẽ nên bức chân dung trên. Hoặc có muộn lắm thì khoảng chừng 50 năm sau đó mà thôi. Cũng do ngưỡng mộ đạo phong của Tổ, mà vị hoạ sĩ tài ba này đã vẽ nên bức chân dung trên qua lời kể của các Ngài ở hàng chữ "Tế", đệ tử của Tổ.

Khi đi tìm hiểu, khảo cứu, L. Sogny đã may mắn tìm gặp bức chân dung trên vào năm 1937. Lúc bấy giờ bản vẽ chân dung của Tổ đã bị phai mờ ít nhiều. Điều này đã khiến ông khẳng định ở bài viết vừa dẫn:

"Ở chùa Bửu Tịnh có một bức vẽ rất cổ còn được lưu giữ nhưng ở trong tình trạng hư hao; đó là bức chân dung của Tổ sư Liễu Quán. Vào trước năm cuối đời, Hoà thượng Chính Lược - Trú trì chùa - đã quyết tâm phục hồi bằng cách cho chụp lại ảnh vẽ này. Về sau, Hội Nghiên cứu Phật học Huế đã tặng một ảnh mẫu cho Hội Đô Thành Hiếu Cổ". (Dans cette pagode, parfaitement entretenue, il existe un dessin très ancien, mais en mauvais état, représentant le portrait du vénérable. L'an dernier, le Bonze Chính Lược en a fait un reproduction fidèle qui a été photographiée. La société de l'étude du Bouddhisme de Hué a bien voulu en offrir un exemplaire pour les A.V.H).

Qua lời dẫn trên, Sogny còn cho ta biết thêm, Hoà thượng Chính Lược, Trú trì chùa Bửu Tịnh đã cho chụp lại bức chân dung của Tổ sư và cho in sang phổ biến ra khắp nhiều nơi ở nước ta. Trong đó Hội nghiên cứu Phật học Huế cũng đã có rất nhiều bản mới có thể tặng cho Hội Đô Thành Hiếu Cổ đăng trong B.A.V.H năm 1937.
Như thế, rõ ràng bức hoạ về bức chân dung Tổ sư Liễu Quán cho đến năm 1937 vẫn chỉ là một bức ảnh hai màu trắng đen.
Một điều khác mà chúng ta quan tâm là bức ảnh chân dung Tổ sư Liễu Quán hiện nay được thờ tại nhiều chùa Việt Nam ở trong và ngoài nước lại được vẽ bằng nhiều màu sắc khác nhau. Vậy ai là người đã vẽ lại bức chân dung này?

Đó là Hoạ sĩ Phật tử Phạm Đăng Trí. Ông sinh ngày 11 tháng 7 năm Canh Thân (1920) và mất ngày 8 tháng 5 năm Đinh Mão (1987) tại Huế. Hoạ sĩ quê gốc làng Tân Hoà, phủ Bình Dương, tỉnh Gia Định, là cháu Đức bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, một Phật tử thuần thành. Ông đã theo học trường Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1939 đến năm 1944 tại Hà Nội. Sau khi trở thành hoạ sĩ, ông Phạm Đăng Trí dạy hội hoạ tại các trường Trung học Bồ Đề ở thành phố Huế, trang trí nội thất tại các chùa danh tiếng ở Huế. Từ năm 1963 đến 1987, giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Hoạ sĩ đã vẽ bìa tạp chí Liên Hoa ngay từ số đầu; trang trí sân khấu cho học sinh trường Bồ Đề, gia đình Phật tử trình diễn văn nghệ; cùng với chư Tăng trang trí vào các ngày đại lễ Phật giáo. Hoạ sĩ Phạm Đăng Trí đã để lại cho đời một bức chân dung của Tổ mà thần thái của bức chân dung đặc biệt này đã gây cho người chiêm ngưỡng một lòng kính trọng vô bờ. Đặc biệt, Hoạ sĩ đã chuyển từ màu đen trắng sang ảnh màu một cách rất tự nhiên.





Chân dung Tổ sư Liễu Quán - bản vẽ lại của Họa sĩ Phạm Đăng Trí

Hiện nay, nhiều bức ảnh chân dung của Tổ sư Liễu Quán có đề lời chú thích rằng: "Chân dung Tổ sư Liễu Quán qua nét vẽ của Hoạ sĩ Phạm Đăng Trí". Viết như vậy sẽ dễ khiến cho người đọc hiểu nhầm là Hoạ sĩ Phạm Đăng Trí đã trực tiếp vẽ ảnh chân dung của Ngài. Thiết nghĩ, chúng ta cũng cần đính chính lại những chú thích sai phạm này.
Qua đây, chúng tôi kính mong Chư Tôn Thiền đức cùng quý vị nhân sĩ trí thức bổ túc thêm cho chúng tôi những tư liệu liên quan về bức chân dung của Tổ sư để việc nghiên cứu thêm phần sâu rộng và phong phú hơn.

L.Q.T Đọc thêm!
Sống lại màu men Huế Xưa


Sau gần 150 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại trên đất Huế một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Trong đó, không thể không nhắc đến những sản phẩm pháp lam dùng trang trí ở các di tích Huế cũng như một số vật dụng dùng trong thờ tự và trong sinh hoạt ở hoàng cung và các gia đình quý tộc.

Pháp lam là thuật ngữ dùng để gọi tên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ có mặt ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX.Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế, cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết rực rỡ màu sắc. Nghệ thuật chế tác pháp lam được du nhập vào VN vào năm Minh Mạng thứ 8 (1827). Trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ II Kỷ, ghi rõ "Đinh Hợi, năm Minh Mạng thứ 8 (1827) mùa đông tháng 11. Đặt tượng cục Pháp lam”. Tượng cục lúc ấy gồm 15 người do Vũ Văn Mai đứng đầu. Xưởng chế tác pháp lam được đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội. Từ xưa, sản phẩm được chế tác bởi các nghệ nhân, bằng cách tráng trên men nhiều màu lên trên bề mặt một số kim loại quý như vàng, bạc, đồng... Đó là sự phối hợp khéo léo giữa cách thức điều chế các loại men với kỹ thuật đúc, gò, hàn cốt kim loại và nung nấu sản phẩm.



Các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ. Pháp lam ở Việt Nam thịnh hành vào các đời vua Minh Mạng , Thiệu Trị,Tự Đức . Đó là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương. Sau đó, nghề pháp lam sa sút từ thời kỳ tứ nguyệt tam vương, đến triều Vua Đồng Khánh (1885-1889) nghề pháp lam được phục hồi song không phục hưng nổi mà rơi vào thoái trào rồi thất truyền.
Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, có thể chia chế phẩm pháp lam thành 4 loại:
Kháp ti pháp lam là Pháp lam làm theo kiểu ngăn chia ô hộc.
Họa pháp lam làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa.
Tạm thai pháp lang là pháp lam có cốt được chạm trổ và
Thấu minh pháp lam là pháp lam có phủ lớp men trong bên ngoài, cốt bằng vàng , bạc hoặc đồng.
Hiện vật pháp lam ở Huế thuộc loại hình hoạ pháp lam.
Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế và được xem là báu vật xa xỉ, quý hiếm sang trọng nên thuật ngữ pháp lam Huế đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc chưa đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế - chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn.
Pháp lam Huế đi theo phương pháp hoạ pháp lam, tức là người thợ vẽ trực tiếp lên nền men rồi mới nung sản phẩm nên sẽ không thể có hai sản phẩm pháp lam giống nhau như khuôn đúc, mà mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật với những dấu ấn riêng. Và cũng chính vì vẽ trực tiếp nên sẽ luôn có yếu tố thăng hoa trong tâm hồn của người thợ in dấu lên tác phẩm. Trong khi đó, pháp lam Trung Quốc được làm theo phương pháp kháp ti pháp lam tức là vẽ lên cốt đồng những đường viền rồi mới tráng men, người thợ có thể gọt dũa các chi tiết sau khi nung cho đến độ hoàn hảo, nên pháp lam Trung Quốc rất chỉn chu trong đường nét. Chính vì thế, pháp lam Huế, xét về đường nét, không đều đặn, chỉn chu như pháp lam của Trung Quốc nhưng đường nét pháp lam Huế gợi lên sự ấm áp trong tâm hồn . Chúng ta có thể nhìn thấy điều này qua 3 sản phẩm pháp lam của Trung Quốc, Nhật bản và của Huế.
Thời Nguyễn, nguyên liệu pháp lam phải mua từ nước ngoài, kỹ thuật chế tác phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, nên làm pháp lam rất tốn kém, đòi hỏi phải có một nền kinh tế vững chắc, ổn định. Cho nên vào thời ấy, pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng hoặc chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Thiệu Trị. Màu sắc rực rỡ của những mảng pháp lam làm nổi bật dấu ấn các công trình kiến trúc dù tháng năm đã nhuộm màu cổ kính rêu phong, đó là những điểm xuyết sinh động, làm cho các công trình ở hoàng cung vốn uy nghi, trầm mặc có thêm phần tươi sáng và thanh thoát. Trải gần hai thế kỷ tồn tại trong môi trường khí hậu và thời tiết khắc nghiệt như xứ Huế, lại bị chiến tranh tàn phá, nên nhiều mảng pháp lam trang trí trên các cung điện Huế đã biến mất hoặc bị xâm hại nặng nề, một số đã được phục chế góp phần trả lại dáng vẻ xưa cho các công trình
Nhận định về màu sắc pháp lam Huế, cố hoạ sĩ Phạm Đăng Trí- người đã tìm ra bảng màu ngũ sắc Huế- nhận định: Các nghệ sĩ làm pháp lam ở Huế đã sớm biết gia giảm liều lượng đậm lạt, nóng lạnh của màu sắc đến độ tinh vi, đã sáng tạo ra những phương thức dùng mảng, dùng màu và phát hiện ra những hòa sắc tương phản rất là chính xác... Pháp lam Huế chứa đựng những màu sắc tươi sáng lộng lẫy có cường độ mạnh nhưng vẫn quen mắt như các hòa sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật”. Khác với pháp lam Trung Quốc chỉ sản xuất hàng vật dụng, pháp lam Huế còn dùng để trang trí trên các công trình kiến trúc, đó là những trang trí ở các nghi môn, mái diềm , bờ nóc, bờ quyết với các hình áng mây, rồng, bát bửu, hoa , chim, thơ văn chữ Hán…

Hiện ở Huế có nhiều nhóm nghiên cứu phục chế Pháp lam, tuy cách thức, công nghệ và đạt những mức độ thành công khác nhau song bước đầu đã đáp ứng công tác trùng tu di tích, hơn thế nữa đã phục hồi được một nghề chuyên sản xuất cho vua chúa mà một thời gian được xem như thất truyền. Đó là cơ sở của Tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức và các cộng sự với việc phục chế các hiện vật pháp lam cung đình trang trí ở nghi môn Đại Nội Huế và cơ sở pháp lam Sao Khuê của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê - đã thành công trong việc phục hồi pháp lam Huế những sản phẩm trang trí mỹ thuật. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương./.

Theo TRT
Đọc thêm!
Phạm Đăng Trí & bức họa 70 cây vàng!
Hôm qua (3/6) là kỷ niệm 12 năm ngày mất (3/6/1987 - 3/6/2009) của họa sĩ Phạm Đăng Trí, một trong những gương mặt đặc biệt của hội họa Thừa Thiên - Huế thời kỳ đầu. Ông là một bậc thầy về tranh lụa và giấy dó, nhưng rất ít được đề cập về sau này, do đa phần tác phẩm không lưu hành ngoài thị trường, và do cả cách ông quan niệm về công việc nghệ thuật. Trong bài này, chúng tôi thử phác họa đôi nét về chân dung của một họa sĩ lặng lẽ, và cả tác phẩm Trận sông Hát giá 70 cây vàng, nhưng ông không bán.
Lặng lẽ và nghiêm cẩn

Họa sĩ Phạm Đăng Trí
Trong loạt bài về Bảo quản tác phẩm nghệ thuật in hồi tháng 3/2009 trên TT&VH, chúng tôi đã có đề cập đến trường hợp Phạm Đăng Trí như là một đại diện tiêu biểu về sự am hiểu chất liệu và sự nghiêm cẩn trong sáng tác.
Họa sĩ Phạm Đăng Trí Ông sinh năm 1921 tại Huế, nguyên quán Gò Công. Theo gia phả, ông sinh ngày 24/8/1920, nhưng theo giấy tờ thì ghi ngày 16/9/1921. Ông từng là sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội (1937-1942). Từ 1945 đến khi qua đời, ông lần lượt là giáo viên, giảng viên hội họa của các trường trung học, rồi Cao đẳng Mỹ thuật Huế.
Suốt cuộc đời gần như ông sống và làm việc tại Thừa Thiên - Huế, với “lớp áo” là một thầy giáo chuẩn mực, hiền hậu. Vợ ông là bà Huỳnh Thị Sanh (sinh 1928), hiện sống với con trai Phạm Đăng Nhật tại Huế, ở số 53 Phan Đăng Lưu. Ông có 3 người con, con trai đầu là Phạm Đăng Phổ đã mất; kế đến là Phạm Đăng Nhật, một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ; kế nữa là Phạm Đăng Diệu, hiện dạy tại Đại học Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM), bác sĩ và tác giả của nhiều cuốn sách về giải phẫu học.
Theo như anh Phạm Đăng Nhật thì cha mình vẽ tranh thường xuyên, nhưng rất kỹ lưỡng, bức nào không ưng ý thì hủy ngay, chứ không cốt giữ lại để kể số lượng. Thường với một bức tranh lụa hay giấy dó khổ trên 1 mét, ông mất khoảng 3-6 tháng cho việc xử lý chất liệu và vẽ. Suốt cuộc đời ông vẽ khoảng 100 bức tranh, hủy bỏ khoảng 20 bức, giữ lại khoảng 80 bức. Năm 1968, khi đang triển lãm tại tư gia, thì bị ném bom, sập 1/2 nhà phía trước và phòng khách, mất đi mấy chục bức tranh. Hiện tại tư gia chỉ còn lại khoảng 40 bức, 8 sơn dầu, còn lại là lụa và giấy dó, khổ lớn trên 1m2 chiếm khoảng 1/2, phần còn lại khổ nhỏ hơn.
Các học trò kể lại rằng, Phạm Đăng Trí quan niệm vẽ là để cho mình, chứ không phải vẽ vì cái danh, cái lợi. Chính vì thế, ông tuyệt đối không bán tranh, con cái sau này cũng cố gắng gìn giữ. Theo anh Nhật thì chỉ có khoảng 2-3 bức hiện lưu hành ở thị trường châu Âu, 1 bức do một bảo tàng mượn đi triển lãm bên Bungary thời bao cấp, sau đó bán luôn, cầm về đưa cho gia đình 20 đồng bạc. Còn 1-2 bức kia là do khi còn sống ông Trí tặng bạn bè, sau ngày ông mất, tranh được giá nên họ bán ra.

Trận sông Hát 70 cây vàng!
Phạm Đăng Trí nổi tiếng nhất với tác phẩm Người suối bạc (54x100cm, giấy dó, 1945), vẽ một thiếu nữ đẹp đang bị bệnh sắp chết, nhưng người xem có cảm giác như thiếu nữ đang nằm ngủ, một giấc ngủ bình yên và thiên thu.


Tác phẩm Người suối bạc, 54x100 cm, giấy dó, 1945

Anh Nhật nói rằng sở dĩ gia đình hạn chế việc phổ biến tranh, ngay cả ảnh chụp là vì ngại chuyện tranh giả. Có vài lần trước đây, khi đọc báo, anh thấy in hình tác phẩm của cha mình, nhưng lại đề tên một họa sĩ khác. Anh nói rằng, cha tôi vẽ tranh là vì hội họa, chứ không phải vì lấy tiếng, lấy tiền… nên ai biết thì mời đến nhà xem. Hiện nay, nhà ông Trí thường tiếp khách vãng lai đến xem tranh.

Lúc Phạm Đăng Trí mới mất, nhiều nhà sưu tập đã tìm đến nhà xin mua, nhưng gia đình đã không bán bất cứ bức nào, ngay cả vài nhà sưu tập lớn người Nhật, vốn đã theo sự nghiệp của ông Trí từ mấy chục năm trước. Chính tác phẩm Trận sông Hát (79x64cm, lụa, 1975) vẽ cảnh Hai Bà Trưng cỡi voi giết giặc, sau 1975, một nhà sưu tập người Nhật đã năm bảy lần tìm đến nhà đề nghị mua, và giá ra cao nhất là 70 cây vàng, nhưng ông Trí không bán. Theo thị trường lúc đó, tại Huế, 1 cây vàng đã mua được nhà. Ông Trí chỉ đồng ý cho nhà sưu tập này chụp hình ông với bức tranh, rồi thu âm cả cuộc trò chuyện, phỏng vấn giữa 2 người.

Tác phẩm Trận sông Hát, 79x64cm, lụa, 1975

Theo trí nhớ của nhiều thế hệ học sinh sau 1975, Trận sông Hát được in vào SGK lịch sử cấp 1 (!?). Rất tiếc, người viết chưa tìm lại được quyển sách cũ đó để có thể trả lời chính xác. Từ hồi ông Trí mất, gia đình đã 2 lần làm triển lãm kỷ niệm, 1 lần tại tư gia và 1 lần ở Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Huế (từ ngày 2 đến 12/6/2006). Nhìn những tác phẩm được bảo quản tốt đến mức hoàn hảo, tôi tâm sự với anh Nhật rằng đây là gia sản lớn, tôi hỏi anh nghĩ sao. Anh Nhật nói rằng gia đình không quan tâm về điều đó, mà chỉ xem đây là những tác phẩm kỷ niệm riêng tư, chỉ biết trân trọng.
Văn Bảy
Đọc thêm!