Đời thứ 6
TỪ DŨ BÁC HUỆ KHƯƠNG
THỌ THÁI THÁI HOÀNG THÁI HẬU
MIẾU HIỆU:
Nghi Thiên Táng Thánh Từ Dũ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương Hoàng Hậu.
Ngự húy bên tả là chữ NỮ, bên hữu là chữ CẲNG. tức là chữ HẰNG.
Sinh giờ Kỷ Dậu ngày 19 (Nhâm Thân) tháng 5 năm Canh Ngọ.
Thăng hà khi giờ Mão ngày mồng 5 (Canh Tý) tháng 4 năm Tân Sửu Thành Thái thứ 13. Thọ 93 tuổi. Ngài là con gái thứ 3 của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
TIỂU SỬ BÀ CHƯƠNG HOÀNG HẬU
MỘT BẬC HIỀN PHỤ CỦA NƯỚC VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XX
Tục danh Ngài là PHẠM THỊ HẰNG NGA (nguyên nhân đặt tên đó vì lúc thọ thai, Quốc Công phu nhân nằm mộng thấy trên đỉnh màng một vành trăng tròn). Sinh ngày 19 tháng 5 năm Canh Tuất, là trưởng nữ của quan Lễ bộ Thượng thư và bà Phạm Thị Dụ.
Tiền nhân kể lại: “Giòng nước ở Gò Công quanh năm bị mặn, nhà nào cũng phải đào giếng, nhưng nước giếng cũng vẫn mặn. Từ khi Ngài chào đời, đất giồng Sơn Quy càng ngọt, càng phì nhiêu, hoa mầu trở nên tốt tươi lạ lùng và nước trở nên ngọt thanh. Người xưa có câu:
Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò Rùa vun đất phước.”
Các vùng lân cận đổ xô đến đó đem nước về dùng và còn có thể chữa được bệnh.
Dân trong vùng tán thán: “Phải chăng đó là một tiên nữ gíán trần” nhưng là một mẫu nghi trong thiên hạ.
Lúc còn bé, Ngài đã tỏ ra rất thông minh, xuất chúng. Tính rất hiền từ, đi đứng nghiêm trang cốt cách là một trang đài các.
Năm 9 tuổi, Ngài đã thông kinh sử và ngay năm đó, Ngài đã có kinh nguyệt. Một trẻ em phi thường, khác với tất cả các trẻ em từ xưa đến nay.
Qua năm 12 tuổi, phu nhân Quốc công lâm bệnh nặng, Ngài ngày đêm, chầu chực bên mẹ, hầu hạ thuốc thang, mỗi ngày 3 thời lễ lạy cầu nguyện, cho đến khi phu nhân mất. Rồi Ngài thọ bệnh, thật là một người con chí hiếu. Tiếng thơm đồn đến tai Cao Hoàng Hậu khiến Ngài để ý đến cô gái Gò Công, công dung ngôn hạnh vẹn toàn.
Cuộc đời Ngài bước qua một giai đoạn mới, liên quan đến lịch sử Việt Nam.
Người xưa có 4 câu thơ ca ngợi đức hạnh của Ngài:
Trời sanh quốc mẫu nết na hiền,
Thuở tuổi mười hai đã tự nhiên.
Giòng lệ thủy, tượng trưng thánh chúa,
Gò Sơn Quy triệu ứng thiên nhiên.
Qua năm 14 tuổi, đức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, vì mến đức hạnh của Ngài, bèn ra lệnh tuyển Ngài lai Kinh hầu hạ ngài Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (Thiệu Trị - 1841).
Từ khi bước chân vào cuộc đời mới, Ngài vẫn giữ một niềm khiêm nhượng thuận thảo, sống đúng khuôn mẫu lễ nghi triều đình.
Thuở đó có bà Lệnh Phi được tuyển vào cung trước Ngài, chưa có con.
Đức Thái Tổ một ngày nọ ban cho hai bà mỗi bà một bộ cẩn bào, Cao Hoàng Hậu lại ban 2 bộ khoá - Kiểu bằng vàng: một bộ chạm trổ hình hoa và một bộ hình phụng. Hai bộ đều gói phong cẩn mật. Hằng đêm Cao Hoàng Hậu khấn vái Trời, Phật nếu bà nào lãnh được bộ khoá - Kiểu bằng phụng thì có con trước. Vốn tánh khiêm nhường sẵn có, Ngài mời bà Lệnh Phi nhận trước, còn Ngài bắt sau, nhận được bộ khoá - Kiểu hình phụng. Dâng lên Cao Hoàng Hậu ngài rất mừng. Năm 15 tuổi, Ngài hạ sanh Diên Phước trưởng Công chúa. Năm 16 tuổi, sanh thêm một thứ trưởng Công chúa.
Rồi năm tới, một đêm Ngài nằm mộng thấy một vị thần linh dâng lên Ngài một tờ giấy vàng viết chữ đỏ, có đóng ấn vua và một tràng chuổi minh châu sáng ngời. Ngài rất vui mừng thọ lãnh những quý vật đó. Ngài thọ thai, đản sanh đức Dực Tôn Anh Hoàng Đế (Tự Đức).
Ngài rất sùng bái đạo Phật và tham gia theo nghi lễ triều đình các cuộc trai đàn chẩn tế, đàn Nam Giao và tất cả các nghi lễ cúng tế của Hoàng gia. Triều đình rất tán dương đức độ của Ngài.
Năm 1843, Ngài được Sắc phong làm Thần Phi, rồi qua năm sau Nhất Giai Phi.
Vua Thiệu Tri băng hà, Ngài hết lòng dạy dỗ vua Tự Đức. Dạy cách trị nước an dân, lúc nào cũng đặt Tổ quốc lên trên, Ngài còn dạy kinh sử và văn thơ. Nhờ vậy mà vua Tự Đức trở nên một vị vua văn chương lỗi lạc, thông thái, hiếu học và rất có hiếu. Có lần Ngai dùng roi vọt để giáo huấn vua con, mỗi khi có chuyện sai lầm.
Ngài bình sinh đức tánh khiêm nhường, không ham danh tước, Vua và triều đình tha thiết khẩn cầu Ngài mới chịu suy tôn hiệu, mỹ tự, bởi vào thời đó, dân sinh luôn bị đói kém. Ngài truỵền đặt khắp nơi xuất những vựa lúa để cứu trợ đồng bào. Ngài góp một phần rất lớn trong việc an dân trị quốc. Có lần Ngài ra lệnh cho một vị Toàn quyền Đông Dương bãi bỏ thuế muối.
Năm 1874, quân Pháp buộc triều đình ký Hoà ước nhượng lục tỉnh. Vua Tự Đức rất bối rối, bất lực phải nhượng bộ, nhưng vua buộc Pháp quốc phải nhượng lại mãnh đất của quê ngoại cho dòng họ Phạm Đăng khỏi phải lệ thuộc Pháp.
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, để lại di chiếu suy tôn Ngài Từ Dũ làm Thái Hoàng Thái Hậu.
Năm 1885, Kinh thành Huế đô thất thủ, Ngài cùng các cung phi mỹ nữ, theo vua Hàm Nghi bôn đào chạy loạn ra đến Quảng Trị. Vua Hàm Nghi khẩn tâu tha thiết, Ngài mới chịu trở về Huế.
Vua Đồng Khánh lên ngôi, phong Ngài mỹ hiệu tôn thụy là Bác Huệ Thái Hoàng Thái Thái Hậu.
Ngày 5 tháng 4 năm Tân Sửu Ngài băng hà, thọ 93 tuổi, tôn thụy là NGHI THIÊN TÁNG THÁNH TỪ DŨ BÁC HUỆ TRAI TÚC TUỆ ĐẠT THỌ ĐỨC NHÂN CÔNG CHƯƠNG THÁI HOÀNG THÁI THÁI THÁI HẬU. Hiện nay lăng tẩm của Ngài toạ lạc tại Xương Thọ, Cư Chánh - Huế.
Lúc sắp băng hà Ngài triệu vua Thành Thái, có cả ông bà cụ chúng tôi quỳ dưới chân long sàng, Ngài đã dạy rằng: “Giờ ra đi của ta sắp đến, ta đã vượt qua bao chông gai khổ nhọc. Giờ đây ta đã bước qua đến một con đường xinh đẹp vô song, trên đường đi cây cỏ tốt tươi, hoa thơm cỏ lạ chưa từng có”. Thế rồi Ngài viên tịch. Toàn thân Ngài sáng ngời, có mùi thơm lạ lùng. Phải chăng đó là một vị Bồ Tát hiện thân, làm mẫu nghi thiên hạ suốt thời Nguyễn.
Ngài đã lập ra chùa Từ Ân và bà dâu Ngài Thuận Hiếu chùa Linh Quang. Hằng năm qúy Ngài đến những nơi đó để lễ lạy.
Đức Từ Dũ của chúng ta con cháu của Phạm Đăng là một người con chí hiếu, một bà vợ gương mẫu, một bà mẹ đức hạnh, một mẫu nghi thượng thủ bậc nhất và còn là một tối cao cố vấn của mấy đời vua kế tiếp vua Tự Đức.
Thật là một tấm gương sáng ngời, để chúng ta tôn thờ.
Trích Tôn phổ họ Phạm Đăng
TỪ DŨ BÁC HUỆ KHƯƠNG
THỌ THÁI THÁI HOÀNG THÁI HẬU
MIẾU HIỆU:
Nghi Thiên Táng Thánh Từ Dũ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương Hoàng Hậu.
Ngự húy bên tả là chữ NỮ, bên hữu là chữ CẲNG. tức là chữ HẰNG.
Sinh giờ Kỷ Dậu ngày 19 (Nhâm Thân) tháng 5 năm Canh Ngọ.
Thăng hà khi giờ Mão ngày mồng 5 (Canh Tý) tháng 4 năm Tân Sửu Thành Thái thứ 13. Thọ 93 tuổi. Ngài là con gái thứ 3 của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
TIỂU SỬ BÀ CHƯƠNG HOÀNG HẬU
MỘT BẬC HIỀN PHỤ CỦA NƯỚC VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XX
Tục danh Ngài là PHẠM THỊ HẰNG NGA (nguyên nhân đặt tên đó vì lúc thọ thai, Quốc Công phu nhân nằm mộng thấy trên đỉnh màng một vành trăng tròn). Sinh ngày 19 tháng 5 năm Canh Tuất, là trưởng nữ của quan Lễ bộ Thượng thư và bà Phạm Thị Dụ.
Tiền nhân kể lại: “Giòng nước ở Gò Công quanh năm bị mặn, nhà nào cũng phải đào giếng, nhưng nước giếng cũng vẫn mặn. Từ khi Ngài chào đời, đất giồng Sơn Quy càng ngọt, càng phì nhiêu, hoa mầu trở nên tốt tươi lạ lùng và nước trở nên ngọt thanh. Người xưa có câu:
Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò Rùa vun đất phước.”
Các vùng lân cận đổ xô đến đó đem nước về dùng và còn có thể chữa được bệnh.
Dân trong vùng tán thán: “Phải chăng đó là một tiên nữ gíán trần” nhưng là một mẫu nghi trong thiên hạ.
Lúc còn bé, Ngài đã tỏ ra rất thông minh, xuất chúng. Tính rất hiền từ, đi đứng nghiêm trang cốt cách là một trang đài các.
Năm 9 tuổi, Ngài đã thông kinh sử và ngay năm đó, Ngài đã có kinh nguyệt. Một trẻ em phi thường, khác với tất cả các trẻ em từ xưa đến nay.
Qua năm 12 tuổi, phu nhân Quốc công lâm bệnh nặng, Ngài ngày đêm, chầu chực bên mẹ, hầu hạ thuốc thang, mỗi ngày 3 thời lễ lạy cầu nguyện, cho đến khi phu nhân mất. Rồi Ngài thọ bệnh, thật là một người con chí hiếu. Tiếng thơm đồn đến tai Cao Hoàng Hậu khiến Ngài để ý đến cô gái Gò Công, công dung ngôn hạnh vẹn toàn.
Cuộc đời Ngài bước qua một giai đoạn mới, liên quan đến lịch sử Việt Nam.
Người xưa có 4 câu thơ ca ngợi đức hạnh của Ngài:
Trời sanh quốc mẫu nết na hiền,
Thuở tuổi mười hai đã tự nhiên.
Giòng lệ thủy, tượng trưng thánh chúa,
Gò Sơn Quy triệu ứng thiên nhiên.
Qua năm 14 tuổi, đức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, vì mến đức hạnh của Ngài, bèn ra lệnh tuyển Ngài lai Kinh hầu hạ ngài Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (Thiệu Trị - 1841).
Từ khi bước chân vào cuộc đời mới, Ngài vẫn giữ một niềm khiêm nhượng thuận thảo, sống đúng khuôn mẫu lễ nghi triều đình.
Thuở đó có bà Lệnh Phi được tuyển vào cung trước Ngài, chưa có con.
Đức Thái Tổ một ngày nọ ban cho hai bà mỗi bà một bộ cẩn bào, Cao Hoàng Hậu lại ban 2 bộ khoá - Kiểu bằng vàng: một bộ chạm trổ hình hoa và một bộ hình phụng. Hai bộ đều gói phong cẩn mật. Hằng đêm Cao Hoàng Hậu khấn vái Trời, Phật nếu bà nào lãnh được bộ khoá - Kiểu bằng phụng thì có con trước. Vốn tánh khiêm nhường sẵn có, Ngài mời bà Lệnh Phi nhận trước, còn Ngài bắt sau, nhận được bộ khoá - Kiểu hình phụng. Dâng lên Cao Hoàng Hậu ngài rất mừng. Năm 15 tuổi, Ngài hạ sanh Diên Phước trưởng Công chúa. Năm 16 tuổi, sanh thêm một thứ trưởng Công chúa.
Rồi năm tới, một đêm Ngài nằm mộng thấy một vị thần linh dâng lên Ngài một tờ giấy vàng viết chữ đỏ, có đóng ấn vua và một tràng chuổi minh châu sáng ngời. Ngài rất vui mừng thọ lãnh những quý vật đó. Ngài thọ thai, đản sanh đức Dực Tôn Anh Hoàng Đế (Tự Đức).
Ngài rất sùng bái đạo Phật và tham gia theo nghi lễ triều đình các cuộc trai đàn chẩn tế, đàn Nam Giao và tất cả các nghi lễ cúng tế của Hoàng gia. Triều đình rất tán dương đức độ của Ngài.
Năm 1843, Ngài được Sắc phong làm Thần Phi, rồi qua năm sau Nhất Giai Phi.
Vua Thiệu Tri băng hà, Ngài hết lòng dạy dỗ vua Tự Đức. Dạy cách trị nước an dân, lúc nào cũng đặt Tổ quốc lên trên, Ngài còn dạy kinh sử và văn thơ. Nhờ vậy mà vua Tự Đức trở nên một vị vua văn chương lỗi lạc, thông thái, hiếu học và rất có hiếu. Có lần Ngai dùng roi vọt để giáo huấn vua con, mỗi khi có chuyện sai lầm.
Ngài bình sinh đức tánh khiêm nhường, không ham danh tước, Vua và triều đình tha thiết khẩn cầu Ngài mới chịu suy tôn hiệu, mỹ tự, bởi vào thời đó, dân sinh luôn bị đói kém. Ngài truỵền đặt khắp nơi xuất những vựa lúa để cứu trợ đồng bào. Ngài góp một phần rất lớn trong việc an dân trị quốc. Có lần Ngài ra lệnh cho một vị Toàn quyền Đông Dương bãi bỏ thuế muối.
Năm 1874, quân Pháp buộc triều đình ký Hoà ước nhượng lục tỉnh. Vua Tự Đức rất bối rối, bất lực phải nhượng bộ, nhưng vua buộc Pháp quốc phải nhượng lại mãnh đất của quê ngoại cho dòng họ Phạm Đăng khỏi phải lệ thuộc Pháp.
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, để lại di chiếu suy tôn Ngài Từ Dũ làm Thái Hoàng Thái Hậu.
Năm 1885, Kinh thành Huế đô thất thủ, Ngài cùng các cung phi mỹ nữ, theo vua Hàm Nghi bôn đào chạy loạn ra đến Quảng Trị. Vua Hàm Nghi khẩn tâu tha thiết, Ngài mới chịu trở về Huế.
Vua Đồng Khánh lên ngôi, phong Ngài mỹ hiệu tôn thụy là Bác Huệ Thái Hoàng Thái Thái Hậu.
Ngày 5 tháng 4 năm Tân Sửu Ngài băng hà, thọ 93 tuổi, tôn thụy là NGHI THIÊN TÁNG THÁNH TỪ DŨ BÁC HUỆ TRAI TÚC TUỆ ĐẠT THỌ ĐỨC NHÂN CÔNG CHƯƠNG THÁI HOÀNG THÁI THÁI THÁI HẬU. Hiện nay lăng tẩm của Ngài toạ lạc tại Xương Thọ, Cư Chánh - Huế.
Lúc sắp băng hà Ngài triệu vua Thành Thái, có cả ông bà cụ chúng tôi quỳ dưới chân long sàng, Ngài đã dạy rằng: “Giờ ra đi của ta sắp đến, ta đã vượt qua bao chông gai khổ nhọc. Giờ đây ta đã bước qua đến một con đường xinh đẹp vô song, trên đường đi cây cỏ tốt tươi, hoa thơm cỏ lạ chưa từng có”. Thế rồi Ngài viên tịch. Toàn thân Ngài sáng ngời, có mùi thơm lạ lùng. Phải chăng đó là một vị Bồ Tát hiện thân, làm mẫu nghi thiên hạ suốt thời Nguyễn.
Ngài đã lập ra chùa Từ Ân và bà dâu Ngài Thuận Hiếu chùa Linh Quang. Hằng năm qúy Ngài đến những nơi đó để lễ lạy.
Đức Từ Dũ của chúng ta con cháu của Phạm Đăng là một người con chí hiếu, một bà vợ gương mẫu, một bà mẹ đức hạnh, một mẫu nghi thượng thủ bậc nhất và còn là một tối cao cố vấn của mấy đời vua kế tiếp vua Tự Đức.
Thật là một tấm gương sáng ngời, để chúng ta tôn thờ.
Trích Tôn phổ họ Phạm Đăng
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.