Khu Lăng Hoàng Gia
Việt Tuấn
Khu lăng Hoàng Gia là một nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng - một dòng họ nổi tiếng tại Nam Bộ vào các thế kỷ XVIII và XIX, toạ lạc trên gò Sơn Quy, nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, cách trung tâm thị xã hơn 2 km về phía tây bắc.
Dòng họ Phạm Đăng vào Gò Công có nguồn gốc như sau:
- Cuối thế kỷ XVI, tiến sĩ PHẠM ĐĂNG KHOA từ đất Thanh Hoá, tránh loạn Trịnh Tùng, theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Ái Tử (Quảng Trị), rồi sau đó chuyển vào làng Phú Xuân (Huế), có vợ là Nguyễn Thị Dương, sinh được 3 trai. Ông mất tại Phú Xuân, thọ 91 tuổi, được tặng chức Trung Thuận Đại Phu Thiềm Sự Phủ Thiểu Thiệm Sự.
- Con trai của Phạm Đăng Khoa là PHẠM ĐĂNG TIÊN, rất giỏi về Nho học, giữ chức Huấn đạo Tư Nghĩa, có vợ là Bùi Thị Thâm, sinh được 1 trai và 5 gái. Ông được tặng chức Hàn Lâm Viện Thị Độc Học Sĩ, mất tại làng Tư Cung (tỉnh Quảng Ngãi), thọ 89 tuổi, lập mộ tại đó.
- Con trai Phạm Đăng Tiên là PHẠM ĐĂNG DINH, sinh năm Đinh Dậu (1717), mất năm Tân Mùi (1811), thọ 94 tuổi. Ông học rộng, giỏi về nghề thuốc, tự hiệu là Huyền Thông Đạo Nhân. Khi Ông mất nhà vua truy tặng hàm danh dự Bình Thạnh Bá (tam phẩm của triều đình).
- Con trai thứ của Phạm Đăng Dinh là PHẠM ĐĂNG LONG, sinh năm Canh Tuất (1730), mất năm Mậu Ngọ (1789). Ông theo cha vào Gò Công. Vốn là người thông minh, ham học, Ông mở trường dạy học tại huyện Tân Hòa, phủ Kiến An, nên được gọi là “Kiến Hoà Tiên sinh”. Theo gia phả Ông được tặng chức Tư Thiện Đại Phu Thượng thơ Bộ Lại.
- Con trai thứ ba của Phạm Đăng Long là PHẠM ĐĂNG HƯNG, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Ất Dậu (1825). Năm 1784, Ông thi đỗ Tam trường, được triều đình sơ bổ làm Lễ Sính ở phủ, sau đó được thăng Lại Bộ Tham Tri. Năm 1819 được sung chức Quốc Sử Quán Phó Tổng tài. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được phong Lễ bộ Thượng thư. Năm 1825 được giao phó giữ kinh thành Huế. Mùa hạ năm này thọ bệnh và mất, được truy phong chức Vinh Lộc Đại Phu Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Năm 1849, vua Tự Đức phong Đặc tấn Vinh Lộc Đại Phu Thái Bảo Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ phong Đức Quốc Công.
Khi Ông mất, theo nghi lễ triều đình, linh cữu được đưa về quê hương, an táng tại gò Sơn Quy.
Ông có vợ là bà Phạm Thị Du sinh được hai trai và một gái – cô gái này là Phạm Thị Hằng, sau trở thành Chương Hoàng Hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức, được phong “Từ Dũ Bác Huệ Khương Thọ Thái Thái Hoàng Thái Hậu” mất năm Tân Sửu (1901), thọ 93 tuổi là một bậc hiền phu nổi tiếng Việt Nam thời đó.
Ông Phạm Đăng Hưng còn có ba người vợ kế: Nguyễn Thị Hữu, sinh được 1 gái: Nguyễn Thị Đình, sinh được 2 gái; Trần Thị Hữu, sinh được 2 trai và 1 gái.
Gò Sơn Quy là một giồng cát khá cao, có hình dáng như một con rùa nằm. Thuở xưa gọi là Gò Rùa, sau đổi thành Sơn Quy (núi Rùa), ý nói đây là nơi phát tích bên ngoại vua Tự Đức. “Quy” là một trong tứ linh “Long, Lân, Quy, Phụng”, Sơn Quy sẽ thiêng liêng bền vững như núi.
Khi vào Gò Công, Ông Phạm Đăng Dinh đã chọn đất này để sống, và các đời kế tiếp của dòng họ Phạm Đăng cũng sinh trưởng tại đây. Trong khi các vùng đất khác bị nhiễm mặn thì ở gò Rùa vẫn có mạch nước ngọt, cây cối tốt tươi, đúng như Nguyễn Liên Phong mô tả trong “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện”.
“Nước ngọt trổ điềm lành
Gò Rùa vun đất phước”
Lần lượt những con người nổi tiếng ra đời: Phạm Đăng Long tức “Kiến Hoà tiên sinh”; Phạm Đăng Hưng - Thượng thư Bộ Lễ và là Đức Quốc Công; Phạm Thị Hằng tức Phạm Thị Hằng Nga tiến cung lúc 13 tuổi, làm Vương phi, rồi làm Hoàng hậu, rồi Hoàng Thái Hậu... làm cho gò Sơn Quy ngày càng nổi tiếng.
Mười ba người trong dòng họ Phạm Đăng qua đời được xây lăng mộ tại đây, trong khoảng thời gian 1811 đến đầu thế kỷ XX đó là lăng mộ của:
1. Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, ông nội của Phạm Đăng Hưng.
2. Kiến Hoà tiên sinh Phạm Đăng Long, thân phụ của Phạm Đăng Hưng.
3. Phan Thị Tánh, thân mẫu của Phạm Đăng Hưng.
4. Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
5. Phan Thi Du, phu nhân của Đức Quốc Công.
6. Phạm Đăng Tuấn, con trai đầu của Đức Quốc Công.
7. Hồ Thị Tánh, vợ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
8. Hồ Thị Toán, vợ thứ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
9. Phạm Đăng Hựu, con trai của Phạm Đăng Tuấn, cháu nội Đức Quốc Công.
10. Phạm Đăng Đạt, em ruột Phạm Đăng Hựu.
11. Nguyễn Thị Thu, vợ của Phạm Đăng Đạt, cháu dâu của Đức Quốc Công.
12. Dương Thị Nhiều, vợ của Phạm Đăng Truyền.
13. Phạm Đăng Đệ, em của Phạm Đăng Truyền, cháu nội của Đức Quốc Công.
Các lăng mộ tổ của Đức Quốc Công xây khá đơn giản, ngoài mộ có vòng thành hình chữ nhật, trước và sau có bình phong, đường nét hoa văn đều giản dị, vật liệu chủ yếu bằng ô dước. Các lăng mộ của phu nhân, con trai, con dâu, cháu nội, cháu dâu của Đức Quốc Công được xây dựng sau đó, cầu kỳ và đẹp hơn. Kiến trúc hài hoà, uy nghi. Vật liệu bằng ô dước, đá và gạch, do những người thợ tài hoa tạo tác.
Đặc biệt là lăng mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, ông ngoại của vua Tự Đức - một kiến trúc coi là tâm điểm của quần thể kiến trúc lăng mộ tại gò này. Phần mộ được xây từ năm 1825, ngay sau khi thi hài của ông được chuyển từ Huế vào. Mộ bát giác hình “đỉnh trụ”, mang dáng dấp một chiếc nón quan trong triều, khác biệt với các mộ thông thường ở Nam bộ. Trước mộ có bốn trụ thấp cách đều giữa búp sen và chiếc nón. Bình phong được xây khá cầu kỳ, đường nét rất uyển chuyển, làm cho ngôi mộ trở nên cổ kính và đầy uy lực.
Toạ lạc trên một vùng đất rộng khoảng 2.000m2, với lối kiến trúc hoành tráng, chặt chẽ mà thâm nghiêm; từ thấp lên cao; từ vuông đến bát giác, đến tròn; từ hữu hạn đến vô biên... triết lý về cõi âm dương, sự mất còn của các bậc hiền tài đã được “vật chất hoá” một cách tài tình.
Năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà bia bên phải được xây dựng, lưu giữ tấm bia đá ghi công đức của Phạm Đăng Hưng. Năm 1998, nhà bia thứ hai được xây dựng, đối diện với nhà bia thứ nhất, chứa trong đó tấm bia bằng đá cẩm thạch trắng, cao 2,2 mét rất quý giá, được thực hiện tại Huế năm Tự Đức thứ 11 (1858), do nhà vua muốn được tỏ lòng biết ơn đối với ông ngoại, đã sai Phan Thanh Giản, Thượng thư Bộ Lễ và Trương Quốc Dụng Thượng thư Bộ Hình soạn văn bia nói lên công trạng của Đức Quốc Công. Cuộc hành trình của tấm bia là một câu chuyện buồn nhưng kết thúc có hậu: Năm 1859, khi chở tấm bia từ Huế vào Gò Công, thuyền qua cửa Cần Giờ thì bị thực dân Pháp cướp lấy. Tháng 12 năm 1860, đại úy thủy quân lục chiến Pháp tên là Barbé bị nghĩa quân Trương Định tiêu diệt gần chùa Khải Tường (Sài Gòn), sẵn có tấm bia lớn, quân Pháp đục chữ vào văn bia cũ, rồi dựng trước mộ tên này tại nghĩa địa Tây (Tp. Hồ Chí Minh). Năm 1985, nghĩa địa này bị giải toả để xây dựng công viên, tấm bia được đem về bảo tàng Cách mạng Hồ Chí Minh và chuyển về tỉnh Tiền Giang, đến nơi nó cần đến, sau hơn một thế kỷ lưu lạc.
Trong hợp thể kiến trúc tại khu Lăng Hoàng Gia, có một kiến trúc quan trọng, đó là đền thờ Đức Quốc Công và dòng họ Phạm Đăng, nằm trên con đường đi vào khu lăng mộ. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826, và hoàn thiện dưới thời Tự Đức, gồm một nhà thờ, nhà khách, nhà kho, tàu ngựa cùng các công trình phụ khác như các hồ sen, chậu kiểng... các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ qúy, mái ngói, tường xây, nội thất được trang trí rất đẹp.
Vào từ đường, chúng ta sẽ thấy nơi chính điện thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, bên trái thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long, bên phải thờ Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, căn chót bên trái thờ Mỹ Khánh Tử Phạm Đăng Tiên, ông cố Phạm Đăng Hưng; căn chót bên phải thờ Thiềm Sự phủ Phạm Đăng Khoa, ông sơ của Phạm Đăng Hưng. Ngày xưa, mỗi năm có hai lệ cúng tế do tri huyện Tân Hòa chủ lễ, từ khi Pháp đến, lệ nay không còn nữa.
Sự hiện diện của quân đội Pháp từ năm 1861 khiến khu Lăng Hoàng Gia bị đe doạ. Dù 3 tỉnh miền Đông bị mất, vua Tự Đức vẫn khẩn khoản xin người Pháp 100 mẫu đất dành cho các ngôi mộ của gia đình họ Phạm qua hoà ước Nhâm Tuất 1862. Nhờ thế khu vực này từng có lần được Trương Định làm tổng hành dinh và các ngôi mộ cũng không bị địch phá hủy. Tuy nhiên do các cuộc chiến tranh kéo dài và thiếu người chăm sóc, khu Lăng Hoàng Gia bị xuống cấp nhanh chóng.
Năm 1998, ngôi nhà thờ được đại trùng tu và đến năm 2005-2006 tiếp tục trùng tu, tôn tạo nội thất, ngoại thất và xây cổng tường rào phần nào trả lại những giá trị kiến trúc đặc biệt dành cho Hoàng tộc tại xứ Gò nổi tiếng.
Di tích Lăng Hoàng Gia được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào năm 1992, theo Quyết định số 3211.
Một quần thể kiến trúc khá xa xưa và khác lạ, bởi đây là nơi yên nghỉ của dòng họ làm quan nhiều đời, họ ngoại của các ông vua Nguyễn. Các kiến trúc ấy như mang tâm trạng vừa bi quan vừa mãn nguyện, du khách đến đây có thể tìm thấy những tâm trạng khác, khi mà một giai đoạn lịch sử phức tạp đã qua đang ẩn hiện đâu đó trong từng phần của di tích.


Trích “Các Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia tại Tiền Giang”


Bản đồ khu mộ Gia Tộc Phạm Đăng sau Lăng Hoàng Gia được cập nhật 12.2010 bởi anh Phan Anh Tuấn
0 Responses

Post a Comment

Note: Only a member of this blog may post a comment.