Nhà cầm đồ và cái tháp (Go Cong-Mont de Piété et le Monument)
HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ SỐ 4

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

NHÀ CẦM ĐỒ VÀ CÁI THÁP

(Go Cong-Mont-de-Piété et le Monument)

PHẦN I

Xuất xứ: Ảnh Gò Công trích từ tập ảnh PHOTO-NADAL, Sài Gòn, từ những năm 1940

Mô tả: Hình chụp từ trước hàng rào nhà Đốc Phủ Hải, thấy tòa nhà cầm đồ sau là Dưỡng đường Bác sĩ Trương Văn Huân trước 1975.

Đã mô tả ở bài trước.

Xin thêm: chữ Pháp mont-de-piété là danh từ chung chỉ một loại “banque de charité” tức “ngân hàng từ thiện” hay định nghĩa rõ hơn “établissement où l’on prête de l’argent à intérêt sur nantissement” giờ thì nghĩa quá rõ là”nơi người ta cho mượn tiền lấy lãi dựa vào sự cầm thế món vật có giá trị”. Người dân “sót” việc đợ của cải lại trả lãi không thấp nên không thấy mục đích từ thiện (!) nên gọi là tiệm cầm đồ, Và đây là tiệm cầm đồ của Tập đoàn Chú Hỏa ở Chợ Gò Công.

Tòa nhà nầy lúc đó ngó ra đường chạy đến bến xe đò (tồn tại tới các năm đầu 1960) và bến ghe tại Vàm Kinh Salicetti. Nay tòa nhà thay mái ngói bằng nóc bằng (các năm đầu 1950) và ngó ra đường Rạch Gầm nối dài, giờ buôn bán sầm uất lấn chiếm đến mé sông.

Nhìn vào bên trái tòa nhà bây giờ là các căn trệt cất tới đường Hai Bà Trưng.

Cái tháp trắng có trụ cao với núm như bánh sinh nhật. Xung quanh và gần sát với tháp có các trụ sắt dăng lòi tói bốn bề. Mỗi cạnh có 2 đoạn lò tói dăng thòng từ trụ sắt giữa. Có tất cả là 8 trụ sắt. Thân tháp cao lối thước rưởi, mỗi cạnh lối 3 thước, trụ cao trên hai thước. Kiểu tháp nầy tôi từng thấy một cái ở chợ Long Điền, Bà Rịa các năm 1960, cũng để ghi công một công bộc của nước Pháp. Đây là một kiến trúc kiểu Gothique của Pháp, công bình mà nói, dáng vẽ có nét đẹp, nhưng đối với dân ta là “khối” ô nhục nặng nề!

Mặt tháp ngó ra đường Đốc Phủ Đức, và qua một vườn cỏ sẽ thấy Nhà việc làng Thành Phố (maison communale de Thành Phố), xa và sau nhà việc là ngôi đình làng Thành phố nay vẫn còn, mặt tiền màu đỏ.

Nhìn mặt trước thân tháp thấy (xin tưởng tượng thêm) sẽ thấy tấm dá cẩm thạch trắng khắc các hàng chữ “6, 7 chục năm bia miệng” bằng chữ Pháp như sau:

A la mémoire du Lanh Binh Huynh Cong Tan,

Chevalier de la Légion d’honneur

Fidèle serviteur de la France

Nghĩa tiếng Việt như sau:

Ghi nhớ công lao quan Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn,

Đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh

Công bộc trung thành của nước Pháp.

Được biết Huỳnh Công Tấn theo Tây từ 1864 mất năm 1877 vì bịnh thì mươi năm sau Pháp cho dựng “tháp” ghi công lao của y. Tháp nằm trước nhà lồng chợ Thuận Ngãi xưa (1864) nơi Pháp đem thi thể chủ tướng cũ của Tấn, phơi 3 ngày rồi mới cho bà hầu Trần Thị Sanh lãnh thi thể chồng về chôn nơi mộ “người” bây giờ.

Giữa tháng 9 – 1945, nhân dân Gò Công phá tháp, cái khối u nhục, trong một buổi chiều thành đống đá vụn. Tôi đã thấy mũ mãn, quan phục của y được lôi ra từ giữa lòng tháp, người ta khều đưa cao lên gió, phút chốc lả tả bay rơi…

Rồi đối diện qua đường Đốc phủ Đức, nhân dân dựng ngôi tháp khác 4 cạnh bằng gỗ ghi công “Trương Công Định” và đặt lại tên tỉnh Gò Công là tỉnh Trương Công Định. Tháng 10 – 1945 Tây trở lại phá tháp và gọi lại là tỉnh Gò Công.

Từ 1954, chỗ tháp xưa cất tòa nhà 1 từng lầu làm Ty và Phòng thông tin, nay chức năng thay đổi.


PHẦN II:

HÌNH THÁP LÃNH BINH TẤN


LỊCH SỬ

HUỲNH CÔNG TẤN

GÒ CÔNG KHÔNG MUỐN NHỚ

Tên thật Huỳnh văn Tấn, người thôn An Long (Yên luông nhị thôn), Huyện Tân Hoà (Gò Công).

Ban đầu hắn theo Trương công Định chống Pháp, sau về hàng Pháp chống lại cuộc kháng chiến, bị thương tưởng chết. Hồi phục, hắn thâm thù thường chỉ điểm cho Pháp đánh phá quân kháng chiến. Ban đầu thất bại nhưng hắn kiên trì và ngày 20 tháng 8 năm 1864 hắn, Huỳnh Công Tấn dẫn đường giúp giặc Pháp bất ngờ bao vây đánh úp chủ tướng cũ tại Đám lá tối trời, làng Gia Thuận, bắn người gảy xương sống.

Sự kiện Trương công rút gươm tuẩn tiết, bị đem thây về chợ thôn Thuận Ngãi, và Bà Sanh lảnh thi thể chồng về chôn thì dân Gò Công nói chung và dân làng Thành Phố biết và thuộc nằm lòng vì đó là bảng “anh hùng ca” dễ địa phương nào có được!

Trở lại tên Tấn, Tây ghi công cất nhắc lên làm Lãnh binh tân trào, ghi tên trên các bảng bình công là Huỳnh công Tấn.

Sau năm 1864 đó, hắn cất nhà lớn tại chợ làng Thành Phố để ở với vợ con. Vị trí có thể là trên miếng đất Bà Phủ Hải bây giờ.

Trong tờ “tương phân” của Bà Hương tức bà huyện Nguơn, mẹ của bà Phủ Hải thì miếng đất nhà Bà Phủ Hải nguyên là miếng đất diện tích 35 sào do con Tấn là Huỳnh công Miên bán “le 18 Avril 1889” (ngày 18-4-1889) cho bà Hương. Bà Hương chia phần thực cho con gái út là Huỳnh thị Điệu, tức bà phủ Hải. (xem bài Nhà Đốc phủ Hải)

Năm 1985, tôi đang dạy học tại trường Trung học Trương Định, tôi có dịch cho Ủy Ban Gò Công Đông các tài liệu nhiều loại bằng tiếng Pháp trong lưu khố Toà Hành chánh cũ, trên dưới 20 trang. Cái tài liệu nầy đề cập đến việc bình ổn vùng Gò Công những năm đầu 1862 – 1870, nhất là tài liệu về công lao của Huỳnh Công Tấn. Tài liệu có cả các “phiếu bình công” hằng năm của Tấn. Trong các phiếu Pháp đều đánh giá cao tài năng mưu lược và can đảm vượt bực của Tấn. Trong một phiếu có mô tả công trạng của Tấn trong chiến dịch bình ổn Quản Định (Pháp viết Quản Định, Chef des rebelles, tức thủ lỉnh quân phiến loạn). Phiếu chót có kể Tấn tham gia chiến dịch ở Kiên Giang năm 1868 bắt Nguyễn Trung Trực, Pháp gọi là Quản Lịch. Đọc phiếu nầy mới thấy mưu lược tàn bạo của tên “chó săn” nầy. Xin xem phần dưới trích trích một vài trang nhân dân Kiên Giang căm thù Tấn. Rôi các bài báo về bửa tiệc Tấn đải các quan Tây từ Sài gòn xuống và bài báo thuật về cái chết trên chiếc ghe hầu từ Gò Công lên Sài gòn.

Khoảng tháng 7-1872, bác sĩ Morice từ Pháp tới Đông Dương sau một chuyến đi dài 45 ngày. Ông đi thăm các nới với sự tò mò của một nhà tự nhiên học. Thoạt tiên, ông thăm Sài Gòn, sau đó là chợ Lớn. Trong số các điểm hấp dẫn ông đi thăm có các khu vườn nuôi cá sấu, mỗi vườn có từ 200 tới 300 con để cung cấp thịt cho khách ăn. Hồi đó người ta rất thích thịt cá sấu.

Ba tháng sau, ông đi thăm Gò Công, một trong những trung tâm trồng lúa quan trọng. Lúc đó Gò Công được xem là một tỉnh đông dân với 33.000 dân tập trung trong 45 làng. Tỉnh lỵ chẳng có gì khác mấy so với các khu toàn nhà lá ở Sài Gòn. Một số nhà lá vẫn còn ôm lấy một phần bến tàu và người ta có thể thấy vắt qua sông là một cây cầu theo kiểu Trung Hoa. Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra. Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.

Lúc đó tỉnh Gò Công đã là một miền dễ chịu và yên bình nhờ lãnh binh Tân. Ông này mời bác sĩ Morice ăn cơm. Tại nhà viên lãnh binh, bác sĩ được chiêm ngưỡng các loại đồ nội thất khảm xà cừ và dự một bữa tiệc thịnh soạn trong khi một người mã-tà ở phía sau nhịp nhàng kéo chiếc quạt làm bằng lông chim. Gió quạt mạnh đến nỗi làm nghiêng ngả những nến (trích)

Trở lại trong bài báo thuật lại bửa tiệc Tấn khoản đải, mô tả ban đầu là Tấn ở Toà nhà cất rộng, có vườn cây, phía trước là con rạch (sau con rạch nầy được cải tạo thành kinh Salicetti), ghe thuyền có thể đậu tại bến rạch trước nhà và lên bờ rồi vào nhà. Do chi tiết nầy ta có thể đoán vị trí nhà Tấn là trên đất sau nầy con Tấn là Hai Miêng bán cho Bà Huyện Ngươn năm 1889 sau khi Tấn chết 10 năm.

Khi tiếp khách ở bàn tiệc Tấn cho người ở trong giựt dây để đưa chiếc quạt gió cho thoáng mát vì chủ khách uống rượu Tây. Đặc biệt có món đải đặt biệt vì mô tả bằng tiếng Pháp tôi đoán dịch là món gỏi vì mô tả là rau sống trộn nước sốt chua trộn tôm thịt, gia vị thêm, ăn chắm nước mắm v.v.

Cũng là tên Tấn, bài báo thuật khi Tấn bịnh nặng chở bằng “ghe hầu” (ghe nhà giàu có mui có buồng riêng) lên Chợ Lớn giữa đường hắn trợn tròng rồi tắt thở. Đó là ngày 26-11 năm 1877, mười ba năm sau khi hại chủ tướng cũ 1864 và phục vụ đắc lực cho Pháp. Chỉ có trên mười lăm năm mà Tấn gầy một sản nghiệp to lớn về ruộng đất định để lại cho các con, hai trai ba gái. Một gái chết nhỏ, hai gái ghê sợ việc làm của cha nên bỏ đi tu theo Nhà Dòng, con trai lớn Hai Miêng phá gia chi tử bán sạch ruộng đất là sau nầy. Đất thì gần một phần tư khu Nam của rạch đã thuộc về y. Ruộng thì y dựa vào thế lực để đăng ký chiếm rất nhiều. Nhưng mươi năm sau chính hắn cũng bán để xài và sau con hắn cũng bán nốt. Năm Tân Mùi (1871) ngày 27 tháng tư , Tấn bán cho Bà Trần thị Sanh hai sở ruộng, một sở ruộng 90 mẩu 41 sào 54 thước tại làng Vĩnh Trị, và một sở ruộng 32 mẩu 23 sào 84 thước tại làng Vĩnh Thạnh. Lúc bán trên 120 mẩu ruộng đó là mới 9 năm theo Pháp, Hắn còn bán nữa trong năm 1874.

Hắn mất, Pháp cho làm tang lễ trọng thể. Tôn Thọ Tường, bạn “đồng liêu tân trào” có hai câu đối viếng, ghi lại như sau coi như bia miệng đến hồi kết cục:

“Phú quới thị thảng lai, oanh liệt hùng tâm khinh nhứt trịch,

Thinh danh ưng bất hủ, ức dương công luận phú thiên thu

Dịch nghĩa:

Giàu sang ấy thoảng qua, lừng lẩy hùng tâm khinh một ném,

Tiếng tăm đành chẳng mục, chê khen công luận phú ngàn năm”

Pháp và gia đình chắc cũng biết dân Nam ta sẽ không khen mà còn hận y nên khi động quan bí mật chôn y một trong 5 cái huyệt và xây năm mộ giống nhau miệt Yên luông! Vợ y lúc đó dân gọi là Bà lớn không giống chồng, hiền thục, muốn cứu rổi linh hồn y nên lập một cảnh chùa thờ ông Quan Thánh, gọi là chùa ông, có bàn thờ và bài vị thờ Tấn. Mới 20 năm trước đây (1987) bài vị vẫn còn. Chùa nay là Nhà trẻ Sơn ca. Riêng Pháp sau khi y chết lập tháp ghi nhận công lao y, bảng khắc, tôi đã từng ghi lại và là bia bêu rếu. Năm 1945, nhân dân phá tháp. Một buổi chiều tháng mười, tôi đã thấy tháp bị phá !

Tấn chết, chưa hết chuyện tại làng Thành Phố, tiếp nôi người con trai cả Huỳnh công Miêng [1], sau khi cha chết Pháp cho du học bên Pháp. Về nước Miêng lúc đầu theo Trần Bá Lộc, đánh với “giặc” Văn Thân ngoài Thuận Khánh. Sau nghĩ sao không rõ mà không nhận chức gì, chỉ ngao du ăn xài theo bậc công tử. Đi khắp lục tỉnh, đi đến đâu, ưa đánh lộn bênh vực người mắc nạn, hết tiền vô quan Tây “mượn xài”. Quan nể tình cũ với cha, hằng trợ giúp và dầu phạm pháp cũng không bắt tội.

Khi chết được đời nhắc tên “Cậu Hai Miêng” dưới cái danh ngộ nghĩnh “lưu linh miển tử”.Đến trước 1945 ở Nam Kỳ và ở làng Thành Phố, gặp thấy ai hành động ngang tàng mà không bị tội, ưa nói “bộ thằng đó là lưu linh miễn tử hay sao mà?”.

Hai Miêng xuất thân làng Thành Phố nhưng lừng danh ở lục tỉnh Nam Kỳ, hành động dọc ngang ở khắp nơi, chỉ có việc bán ruộng phá gia là xảy tại Gò Công. Như trên đã nói Hai Miêng đã bán miếng dất sau cùng cho Bà Huyện Ngươn. Có thể Hai Miêng chết vào khoảng năm 1890, thọ 38 tuổi và mộ phần tại Cầu Kho, quê vợ. Bài thơ “Khóc cậu Hai Miêng của Lê Quang Chiểu in trong “Quốc văn thi tập hiệp tuyển” xuất bản tại Sài Gòn năm 1903 có đoạn viết:

“Số hệ làm ai hởi cậu Miêng

Ba mươi tám tuổi dõi huỳnh tuyền

Sao lờ (mờ) Bến Nghé xiêu người ngõ

Khói toả Cầu Kho thảm vợ hiền.”

Thì ra Hai Miêng khi chết cũng có người, tất nhiên không phải người làng Thành Phố, khóc. Ít ra trong cuộc đời ngang dọc của Hai Miêng cũng phải có nhiều điều đáng tán dương. Do đó ngay sau khi Hai Miêng chết ở Nam Kỳ phổ biến bài vè dưới hình thức thơ lục bát.Thơ Cậu Hai Miêng hiện tôi có do Nhà Xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998, gồm 990 câu lục bát, giới thiệu nhân vật nầy như sau:

Nam Kỳ có cậu Hai Miêng,

Con quan lớn Tấn ở miền Gò Công”

Truyện thơ Cậu Hai Miêng, Thầy Thông Chánh và Sáu Trọng in sớm ở Nam Kỳ vào những năm đầu Thế kỷ 20. Các chuyện nầy vừa phổ biến là Pháp tịch thu ngay. Vì chúng được coi là các truyện thơ “làm rung rinh chế độ thực dân Pháp vào đầu Thế kỷ XX” như lời trong “Địa chí văn hoá TP Hồ Chí Minh (tập 2) NXB TP Hồ Chí Minh, 1988 (trang 46).

Cuối các năm Thế kỷ thứ 19, không còn việc tranh bán đất bán đai của hai cha con Tấn nữa, nhưng làng Thành Phố phải chịu đựng cái “tháp thạch trụ” chơ vơ ghi tên Tấn, hàng chữ ghi công không ai đọc trừ các học trò học tiếng Pháp tò mò, đọc thuộc nhưng không thông về nghĩa. Như trên đã nói tháng 10-1945, tháp bị đập bỏ.

HUỲNH CÔNG TẤN

KIÊN GIANG THÙ HẬN

Sau khi quân Pháp chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, Hà Tiên cũng vùng lên tranh đấu. Đêm 16 tháng 6 năm 1868, đoàn dân quân do anh hùng Nguyễn Trung Trực chỉ huy, từ Phú Quốc kéo qua đánh úp thị xã Rạch Giá, giết hết quân Pháp, giải tán tất cả các cơ quan hành chánh của quân Pháp. Làm chủ tình hình trong một tuần lễ, ông nghe tin đại quân sắp kéo đến, bèn chở hết võ khí, lương thực về Hà Tiên, rồi lánh sang Phú Quốc lập chiến khu tại cửa cạn. Tại đây, nghĩa quân được hai nhà yêu nước Nguyễn Văn Điền và Nguyễn Văn Ngợi hỗ trợ rất nhiều. Hai ông đã đem hết tài sản đóng góp cho cuộc kháng chiến và tổ chức đoàn thuyền qua Xiêm mua khí giới cho quân ta.

Giặc Pháp đánh nhiều lần không nổi, sau chúng phải đem toàn lực tấn công ở mặt Dương Đông. Lúc đó, nghĩa quân chỉ còn 30 người, bà Nguyễn Trung Trực lại sinh nở ngay lúc chạy giặc trong một đ êm mưa to nên đã thiệt mạng cả mẹ lẫn con. Hai tên Huỳnh Công Tấn và Đỗ Hữu Phương (Tổng Đốc Phương) dùng mưu bắt cóc mẹ ông và một số đồng bào làm áp lực bắt ông hàng.

Anh hùng Nguyễn Trung Trực biết không thể tiếp tục chiến đấu được nữa nên đã tụ họp nghĩa quân lại, ông nói "Giặc không giết được chúng ta, nhưng cạn lương thực sẽ bị chết hết". Nếu ta nói "thà chết lúc này" thì cũng chẳng ích gì cho mai sau!. Giặc bắt được tôi thì mừng lắm, sẽ không làm hại anh em. Anh em cố sống mà tiếp tục báo quốc. Tôi biết anh em không tham sống sợ chết, phải can đảm để liệu cách xuất xử". Sau đó, ông cho đổ hết lương thực dự trữ ở Bưng Cây Lương (gần cửa Cạn), rồi tự trói mình ra gặp Huỳnh Công Tấn để cứu mẹ và dân chúng. Giặc Pháp phủ dụ ông quy thuận không được nên đã đem ra hành quyết tại Rạch Giá ngày 27 tháng 10 năm 1868.

PHAN THANH SẮC

14 - 11 - 2007

0 Responses

Post a Comment

Note: Only a member of this blog may post a comment.