LIỆT NỮ NAM VIỆTBÀ TỪ DŨ
Thái Văn Kiểm
Trong số liệt nữ Nam Việt đã lưu danh trong sử sách, bà Từ Dũ là người đã nêu cao gương đức hạnh và đã giữ một vai trọng yếu trong chính sự quốc gia hồi đệ nhị bán thế kỷ XIX.
Bà Từ Dũ sinh ngày 19 tháng 5, năm Gia Long thứ 9 (1810). Quê quán Gò Công, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định. Bà tên là Phạm Thị Hằng hoặc Hào con của công thần Phạm Đăng Hưng và bà Phạm Văn Thị.
Lúc nhỏ bà ham đọc sách, tinh thông kinh sử, hiền đức, thiện hạnh. Khi bà lên 12 tuổi, mẹ bà bị bệnh muốn nằm riêng một mình, không cho người nhà đến gần, sợ lây bệnh; thế mà ngày đêm phụng dưỡng cơm thuốc không rời, thật là chí hiếu.
Khi Phạm phu nhân mất, bà khóc than chẳng dứt, để tang chịu cực khổ không thua người lớn, xa gần nghe thấy đều trầm trồ khen ngợi.
ĐƯỢC TRIỆU VÀO CUNG
Khi bà lên 14 tuổi, Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, vợ kế vua Gia Long, nghe bà có hiền đức, bèn truyền triệu vào cung, khiến chầu hầu cháu trai, về sau là Hiến Tổ tức vua Thiệu Trị, khi ấy còn ở Tiềm Đế.
Thuở ấy có Lịnh Phi là con gái Kim Môn quận công Nguyễn Văn Nhân cũng đồng thời được truyền triệu vào cung, nhưng Lịnh Phi vì lấy tước cha (quận công) nên vị thứ được đứng trước.
Ngày nọ vua Minh Mạng ban cho hai bà, mỗi bà một cái áo kim hoa sa bính lãnh, đến khi bái từ, Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu cho mỗi bà một kim y khấu (khâu tay bằng vàng); một cái chạm hình con phụng, một cái chạm hình cái hoa, nhưng lấy giấy niêm phong rồi khấn chúc rằng: “Như người nào lấy nhằm cái khâu con phụng thì người ấy có con trước”. Xong khiến nữ quan đem ban, mỗi bà phải tự tay bốc lấy một cái, nhưng không được mở ra, phải đem nguyên phong ấy đến trình.
Khi ấy bà nhượng cho Lịnh Phi lấy trước, rồi hai bà đều đem đến trước bà Thuận Thiên mở niêm, thì Lịnh Phi bốc được khâu hoa, còn bà bốc được khâu phụng. Đến 15 tuổi bà sinh Diên Phước trưởng công chúa, rồi lại sinh thứ trưởng công chúa. Từ ấy vua càng thương yêu, vị thứ lại đứng trước Lịnh Phi.
Bà với Lịnh Phi ăn ở cùng nhau rất thuận hoà. Một đêm nọ bà mộng thấy thần mặc áo rộng, mang đai rộng, đầu bạc mày trắng, tay cầm một bức giấy vàng viết chữ đỏ đóng dấu ngọc tỷ, và một chuổi minh châu trao cho bà mà bảo rằng: “Trông theo đấy liền có hiệu nghiệm”. Bà phụng lãnh, rồi có thai, sinh ra Dục Tôn Anh Hoàng Đế tức vua Tự Đức, quả phù với mộng triệu.
ĐOAN TRANG, CUNG CẨN, NHÀN NHÃ, CHỈNH TỀ
Bà tính đoan trang, cung cẩn, nhàn nhã, chỉnh tề, cử chỉ lễ độ. Trong cung, đến tuế thời triều khánh, vua thường khiến bà đi theo lập ban lễ bái, rất hợp lễ nghi, người trông thấy cử chỉ tôn nghiêm có lòng kính quí...
Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) Hiến Tổ Chương Hoàng Đế tức vị, phong bà làm Cung Tần. Năm thứ hai có việc bang giao đón tiếp sứ Tàu, ngự giá Bắc tuần, bà theo chầu hầu, khi ấy cung phi tùy giá rất ít, bà ngày đêm phục sự, phàm những bữu tỷ, tín vật (1) đều giao cho bà. Khi hồi loan đến cung, người trong cung thấy bà tóc rụng thưa, gương mặt có hơi gầy, đều hiểu rằng vì bà quá ư kính cẩn chăm lo mọi việc cho chu toàn.
Mỗi khi vua nhàn rãnh đọc sách đến nửa đêm chưa ngủ, bà cũng thức hầu không biết mỏi mệt, hoặc có khi đến gà gáy mới ăn cơm tối. Bà thường hay khuyên răn các cung phi nên cần mẫn trong chức vụ, khi được ân huệ ban thưởng thì không tranh giành một mình; ai có điều lỗi thì bà chịu thế cho cả. Năm thứ 3, tháng tư, bà được sắc phong làm Thành Phi. Tháng Giêng năm thứ 6 bà được phong làm Quí Phi, rồi được phong Nhất Giai Phi.
Bà thông minh cường kỷ khi đọc các sách vở và văn thơ đều hiểu và nhớ không cần phải mở sách ra duyệt lại.
Ở nội cung bà chăm lo dạy nuôi các hoàng tử, hoàng nữ với đầy đủ tấm lòng từ ái không xiết kể nên thường được vua khen; mỗi khi vua triệu đến hỏi việc thì vua gọi là “phi” chứ không gọi tên, Vua dạy rằng: “Tánh phi ngay thẳng, cẩn thận, nuôi dưỡng con cháu ắt chăng nó nhờ ân trạch ấy lâu dài”.
Năm thứ 7 (1847) vua bệnh nặng bà chầu hầu ký đảo ngày đêm không rảnh để ăn ngủ, đến lúc bệnh ngặt vua đều chúc thác lấy hậu sự, lại dạy rằng: “Quí phi là nguyên phối (vợ cả) của trẫm người có phúc đức hiền minh, giúp việc nội trị cho trẫm đã 7 năm nay, ý trẫm muốn sách lập làm Hoàng Hậu, chính vị trong cung, nhưng tiếc thay chưa kịp”.
KHÔNG CHỊU NHẬN LỄ TẤN TÔN TRONG LÚC TANG CHẾ
Khi vua Tự Đức nối ngôi, đem cả các hoàng thân, công tử, tôn nhân, văn võ đình thần vào xin cử hành đại lễ tấn tôn, Bà dụ rằng: “Ta xem sớ văn đã biết Hoàng đế và chư thần có lòng thành khẩn, nhưng nghĩ quan tài tiên đế đang còn đó, chưa đủ trăm ngày, lòng ta thương tiếc không nguôi. Lại nghĩ Hoàng thượng còn đương tuổi trẻ chưa an chỉnh thể, hằng thấy sớm chiều lo lắng quên ăn, quên ngủ, lòng ta rất thương. Vả lại Hoàng đế nhờ trời quyền cố, đương vị quân sư cho nhân dân phải lo trước sự lo cho thiên hạ, mà vui sau sự vui của thiên hạ, phàm việc gì Tiên đế đã huấn thị, mà Hoàng đế đã phụng thưa thì nên ghi vào lòng để lo nối noi theo, ta trông các quần thần đồng tâm kiệt lực để giúp Hoàng đế để trị vì trăm họ, đặng dài hưởng phúc Trời, và dân an quốc thái, như vậy thì có vui gì cho hơn. Vậy Hoàng đế và các thân
_________
(1) Ấn tín của vua.
huân nguyên lão nên nghĩ lại kỹ, hà tất phải đợi ta nói, đến như việc tấn tôn, bất tất cử hành”.
Tháng 6 năm Tự Đức nguyên niên lại xin tấn tôn nữa, bà truyền: “Hoàng đế có lòng hiếu phụng, và các tôi có lòng chân thành, ta đã đồng tất. Nhưng ta đương cảnh bi ai, ngày đêm luyến mộ, chưa khi nào khuây lãng, vậy thì việc ấy đợi Tây cung khi nào khánh thành sẽ cử hành cũng chưa muộn.
Ngày 15 tháng 4 năm thứ 2 (1859), cung Gia Thọ khánh thành, vua rước Tứ giá ngự qua tân cung. Ngày 23 vua đem tôn nhân đình thần phụng kinh sách kim bửu dâng tôn hiệu “Hoàng Thái Hậu”.
Ngày 19 tháng 5, gặp Thánh Thọ tứ tuần đại khánh tiết, vua đem quần thần dự hạ tiên tấu biểu cử hành khánh lễ, lễ xong gia tặng cho Phạm Đăng Hưng chức Đặc TấnVinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chính Điện Đại Học Sĩ, phong Đức Quốc Công thụy Trung Nhã; chính thất Phạm Văn Thị phong Đức Quốc nhứt phẩm Phu Nhân, thụy Đoan Từ, dựng nhà thờ ở xã Kim Long (gần Huế). Tháng 7 gia tặng chi tiên đại Thích Lý Phạm tộc và gia tước Thụy dựng nhà thờ ở phía hữu nhà thờ Đức Quốc Công.
TÁNH TÌNH KIỆM ƯỚC, CHẲNG CHUỘNG PHÙ HOA
Năm thứ 12 (1854) sắp đến kỳ Thánh Thọ ngũ tuần đại khánh tiết, mùa đông năm thứ 11, tôn nhân đình thần dâng sớ khẩn thỉnh tấn tôn huy hiệu mỹ tự, vua bưng sớ vẫn đứng lên rồi bái thỉnh. Bà dụ rằng: “Xem tờ tấu ta đồng tất, nhưng nghĩ ra ta đã được thiên hạ phụng sự, thì nên lo những việc thiên hạ đương lo, năm nay chưa đều đặng mùa, nhân dân chưa đều được vui sướng, chính lúc Hoàng đế phải lo chăm, lòng ta nào nở thản nhiên. Vả lại tính ta vốn kiệm ước, chẳng chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay hưởng được tôn vinh, ta thường e sợ, ta tính chẳng rồi, huống chi còn gia thêm cho hư danh, để ta càng nặng cái lỗi thất đức hay sao? Vậy thì sớ thỉnh ấy nên bãi đi, chí nguyện chư công và quần thần lo giúp chính trị giáo dục thế nào cho ta được thấy thạnh trị thái bình, thì không chi vui bằng. Qua sang năm gặp ngày đản của ta 50 tuổi, thì nhất thiết sự nghi lễ ấy Hoàng đế nên châm chước thi hành chiếu theo thường lệ mấy năm, gia thêm một đôi phần cũng đủ thoả mãn dư tình mà thôi, không nên quá ư vãn sức”.
CẦU KHẨN TRỜI MƯA, CHO DÂN CÓ NƯỚC CÀY RUỘNG
Tháng 5 năm sau đến khánh tiết, trước mấy ngày các công chúa cho đến nội đình cung nhân, nữ quan đều dâng phẩm nghi, xin dâng ca nhạc chúc tụng. Khi ấy gặp hạn, vua khiến quan Kinh Doãn cầu mưa, và ở trong cung cùng mật đảo, Hậu dụ rằng: “Trời nắng gắt mấy tuần nay, việc nông làm không được, ta có vui gì đâu? Nhưng ta không nở trái ý, phải đợi có trận mưa sẽ cho cử hành một hai ngày cho thoả”. Bà lại thường hỏi đến công việc nhà nông ăn làm, rồi mật niệm khấn vái, đến ngày ấy bỗng nhiên có trận mưa, vua đem quần thần đến làm lễ khánh hạ. Lễ xong, bà dạy rằng: “Ta đã đồng tất lòng thành của quần thần, nhưng tỏ tánh ta không chuộng sự xa hoa, nay lẽ ưng phát hoàn toàn số lễ vật để giữ kiệm ước, chỉ nghĩ quần thần đã có lòng ân cần, nếu bác khước hết đi chẳng khỏi phiền lòng, vậy thì trừ những vật hạng vàng ngọc trân bửu đều phát hoàn, còn tiền bạc thì phân hạng phát thưởng cho bá quan”.
Năm thứ 22 (1869) cung ngộ lục tuần đại khánh tiết. Mùa đông năm 21, vua hưng tấu văn dẫn quần thần đến cung Gia Thọ (cung của Hậu ở) thỉnh chỉ, xin đến sang năm làm lễ khánh tiết. Bà dạy rằng: “Cứ theo tình tự tấu thỉnh, ta đã rõ biết Hoàng đế cùng Hoàng thân, đình thần có lòng thành thật. Nhưng nghĩ Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia long) có nhân từ hậu đức, phước trạch thấm nhuần nước nhà dài lâu, thì tất tôn huy hiệu vẫn phải, chừ ta đây là người ít đức, đâu dám so sánh, huống chi hiện nay biên cảnh chưa yên, có vụ còn nhiều, có vui sướng chi đâu, nếu viện lẽ xin như vậy thì không hợp theo thời nghi mà lại trái ý của ta, vậy qua sang năm lễ nghi khánh tiết nên tính giảm cả, còn phẩm vật khánh hạ cũng nên chước biện, một vài vật thổ sản chi đó, để biểu thị lòng thành mà thôi, chớ có xa xỉ”.
Đến kỳ khánh tiết, vua khiến Gia Hưng Công là Hồng Hưu đến cáo trước điện Long An, ngày bữa sau rước Từ giá đến chiêm bái, lại khiến Lễ bộ Tá thị lang Phan Đình Bình đến cáo trước Đức Quốc Công. Chính ngày làm lễ, vua dẫn hoàng thân, văn võ bá quan đến cung Gia Thọ bái hạ, khiến Tuy Lý Vương Miên Trinh dâng hạ tiên (tờ chúc thọ), Kiều thụy công Hồng Y bưng bình rượu Hoàng tự Quận công Hồ Tố bưng chén làm lễ thượng thọ, vua dâng bài tụng “Lục tuần đại khánh”.
PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI HIỆP ƯỚC 15-3-1874
Năm 1874 Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Bộ và buộc ta phải ký hiệp ước nhường địa. Nghe tin này, bà Từ Dũ nhịn ăn trong ba ngày, nước mắt dầm dề, trông rất thảm thương.
Hiệp ước này ký tại Sài Gòn (dinh toàn quyền) giữa phó đô đốc Dupré và hai đại diện của Nam triều do vua Tự Đức phái vào là Lê Quang và Nguyễn Văn Tường, ngày 27 tháng giêng năm Tự Đức thứ 27 (25-3-1874).
Theo hiệp ước đó thì 11 ngôi mộ của họ Phạm ở Gò Công và 3 ngôi mộ của họ Hồ ở Thủ Đức không ai được đào bới và phá hủy. Ngoài ra nhà cầm quyền phải cấp 100 mẫu ruộng cho hai họ đó, để lo việc hương khói và tu bổ các ngôi mộ. Những đất này khỏi phải chịu sưu thuế. (Les onze tombeaux de la famille des Pham, situés sur le territoire des villages de Tân Niên Đông et de Tân Quan Đông (province de Saigon) et les trois tombes de la famille Hồ, situées sur les territoires des villages de Linh Chiêu Tây et Tân Mai (province de Biên Hoà) ne pourront être ouverts, creusés, violés ou détruits.
Il sera assigné un lot de terrain de 100 mâu d’étendue aux tombes. Les revenues de ces tombes seront consacrés à l’entretien des tombes et à la subsistance des familles chargées de leur conservation. Les terres seront également exemptes d’impôts personnels, du service militaire et de corvées.
(Article 5 – Traité du 15-3-1874)
Chính bà Từ Dũ, quê quán Gò Công, là người đã can thiệp buộc Pháp phải ghi điều khoản 5 này vào hiệp ước 15-3-1874.
SỢI TƠ, HỘT GẠO LÀ MÁU MỠ CỦA DÂN
Tuy đã cực tôn, có bổng lộc thiên hạ phụng dưỡng, mà Bà vẫn kiệm ước, nhất thiết đồ phục dụng đều chuộng chất phác, không khác lúc xưa, Bà thường bảo: “Ta tự xét không làm gì có ích cho nước nhà, há dám tự phung cho xa xỉ, cho nên phàm việc dùng đều tiết kiệm vừa đủ mà thôi, không có vọng phí”. Như ở trong cung, lệ thường có sáp vàng để dùng làm đèn soi rọi khắp nơi. Bà khiến tính giảm, mỗi khi mỗi ít, sáp dư ra rất nhiều, Bà khiến đem về kho mà trữ và dạy rằng: “Ta nhớ lúc nhỏ gia tư chưa được dư dã, tuy thứ dầu nước là vật rẻ mà cũng khó thắp cho suốt đêm. Nay nhờ phước Trời và của tổ tiên, giàu có bốn biển, nhưng một sợi tơ, một hột gạo cũng đều là máu mỡ của dân, nên lãng phí đã không ích gì, mà lại đáng tiếc lắm vậy, chi bằng cất vào kho để dùng việc nước”. Lại dụ: “Hưởng những đồ hàng lụa, gấm đoạn, châu ngọc đem dùng, ta đều giao cất vào kho, chưa từng dùng đến, vì tính ta không ưa hoa lệ, chứ chẳng phải là sắc lận”.
Vua mỗi khi rảnh rỗi vào hầu, Bà thường đàm thuật công đức và những lời nói, việc làm của tiên triều, liệt thánh để huấn thị, khiến giữ gốc trung hậu, không nên chuộng mới hơn cũ. (Vua Tự Đức ghi lại những lời mẹ dạy trong quyển “Từ Huấn Lục”.)
Gặp ngày kỵ đản, Bà khiến mua sắm trước những hoa quả và tắm gội sạch sẽ, ban đêm truyền cho kẻ hầu gần phải theo từng canh báo cáo, đợi vừa sáng Bà đến cúng lạy, khi lạy xong Bà đứng hầu ở bên, cũng như phụng sự người sống vậy, đợi khi nào làm lễ xong mới lui ra.
Lại đến ngày kỵ ở điện Long An, Bà tưởng niệm vua Thiệu Trị thương khóc lụy sa dầm dề, kẻ hầu hạ ai ai cũng bi cảm. Đến như khi tế riêng ở Gia miếu thì phẩm lễ dự bị rất nghiêm chỉnh đầy đủ tinh khiết. Lễ tế ở từ đường thích thuộc Phạm Văn Thị cũng vậy.
KHÔNG CHO CÔNG CHÚA QUÁ HAI LƯỢNG VÀNG
Bà thường ngày ưa đọc sách cho vui và để dạy các em trai em gái. Trong các hoàng thân công chúa và cung nhân. Tiên triều người nào túng thiếu Bà đều cấp cho, nhưng thuờng khuyên nên tiết kiệm. Có bà công chúa thứ 9 đã nghèo lại đau bệnh trái đậu, Bà thương tình bèn cho 2 lượng vàng, công chúa lại xin thêm, bà nói: “Ta rất thương người nghèo mà rất ghét người xa xỉ, nói về bổng lộc của chúa chẳng khác chi ai, mà chẳng lo cần kiệm, cứ tiêu xài mãi, thì lấy của đâu tiêu cho đủ, tuy ta thường giúp cho, mà cũng không tránh khỏi thiếu. Vả lại hoàng thân công chúa rất đông, có lẽ nào kẻ hậu mà người bạc, nên chỉ giúp cho số ấy”. Coi như vậy thì biết bà có lòng từ ái mà lại nghiêm minh.
RẤT NGHIÊM KHẮC VỚI BÀ CON DÒNG HỌ
Bà thường ngăn dứt bọn ngoại gia không cho đến thinh thai. Có người Thích lý không ưa học hành mà cầu làm thị vệ. Bà nghe được, bảo rằng: “Người trong Thích lý chớ lo sự không ra làm quan được, chỉ lo là bất tài mà thôi, cho nên ta đã ưu cấp cho lương tiền, định bề gia thất khiến chuyên lo học hỏi, may có thi đậu để cho vẻ vang gia tộc, không ngờ cây mục khó chạm, giải đải học hành mà ứng sự bốn cạnh, thật là phụ mỹ ý tác thành của ta. Vả lại vào thị vệ phải có chức vụ, chứ có phải vô cớ mà được lạm dụng đâu. Huống chi người trong thích lý, có bổ quan đi nửa, cũng chỉ làm chức Phụng triều thính (2) mà thôi, há có phải bậc trật ra tòng chánh dự sự một cách dễ dàng đâu, nếu chiếu theo lời thỉnh cầu, thì những người trong thích lý đề được làm quan hết hay sao? Vậy là trái hẳn ý của ta”.
Lại có khi người trong thích lý bị người ta thưa kiện về việc tư nhủng, việc ấy tâu lên, Bà bảo vua rằng: “Người thích lý vốn không công nghiệp, chỉ nhờ gia ấm được bổ quan, nên giữ pháp luật để thừa hưởng phước lộc mới phải, nay lại làm điều trái phép đáng ghét lằm. Hoàng đế nên triệu về kinh nghiêm trừng để răn tương lai, mà bày sáng công đạo cho người ta biết”.
NHÂN BẤT HỌC BẤT TRI ĐẠO
Bà tánh ưa sử sách, vua thường đem sử đến đọc, Bà lòng nghe, dụ rằng: “Người ắt phải học, nhiên hậu biết được điều thiện điều ác, điều thiện nên soi làm gương, điều ác nên răn tránh, vậy mới biến hoá khí chất mà không sa vào chỗ tà. Nên sách xưa có câu: Nhân bất học bất tri đạo, người chẳng học chẳng biết đạo lý”.
Có một hôm vua đọc sử đến đoạn “kim nhân tâm giam ký khấu, bối minh, cổ thi thận ngôn nhân dã” (người bằng vàng nên miệng ba lớp, ở sau lưng chạm chữ, đó là người cẩn thận lời nói vậy). Bà dạy rằng: “Phải lắm! lời nói không nên không thận trọng: ra một lời nói mà người ta thọ hại, với lại những điều ân oán thành bại đều do tự cái miệng mà ra.
Cho nên Kinh Thi có câu: “Bạch khuê chi điểm, thượng khả ma dã, tư ngôn chi điểm, bất khả vi dã”, ngọc bạch khuê có vết (tì tích) còn mài được, lời nói có vết, không biết làm sao cho hết”.
Vua đọc đến đoạn nhà Tần, bà nói: “Nhà Tần chuyên dùng hình pháp, không tu nhân đức, lại giết Phú Tô, Mông Điềm, tin dùng Triệu Cao, Lý Tư cho nên không được trường cửu; coi vậy thì biết: lập nước ra phải chuộng điều nhân nghĩa mới được lâu xa, Bà lại nói: “Tội của Triệu Cao, Lý Tư, chết vạn kiếp cũng chưa đủ che hết tội”.
Đọc Hán sử đến việc Hàn Tín, bà nói: “Hàn Tín dụng binh như thần, đến đâu hơn đến đấy chỉ có phóng nhân bất cẩn và tường lịnh không nghiêm nên bị Hán Cao Tổ hai lần xông vào định lấy ấn đem để chỗ khác, nói gặp giặc xông vào như thế đó thì phải hỏng việc. Lại nói: “Hàn Tín giữ mình không được sáng suốt, nói ra có lời bất tốn, nên bị tru lục thật đáng tiếc, có phải Tín sáng trí ở việc này mà thất trí ở chỗ khác chăng?”
Đọc đến việc Lữ Hậu với Triệu Vương, mà Châu Xương không cho, Bà nói: “Châu Xương can việc phế thái tử, nay ủy nhiệm làm tướng nước Triệu, Xương cũng lo hết chức trách, coi lòng trung trực của người xưa đáng làm gương cho hậu thế”.
____________
(2) Nguyên “Phụng triều thính giả, phụng triều hội thính triệu như di”, chức phụng triều thính là khi nào có hội triều mới thính hiệu mà thôi. Chức này đặt từ đời nhà Hán.
CHÊ CƯỜI BÀ LỮ HẬU VÀ KHEN GIẢ NGHỊ
Đọc đến đoạn Lữ Hậu thì Bà lại chê cười. Đọc đoạn Giả Nghị dâng trị an sách, Bà nói: “Giả Nghị tuổi trẻ mà văn học như thế đáng khen là có tài. Lúc ấy sự thế nguy nghi, phong tục hư nát, không ai nói đến, chỉ có một Giả Nghị dâng sách nói đến mà thôi, khá bảo rằng có lòng trung với nhà Hán vậy. Như đem sách ấy thi hành cũng đủ trị an được, tiếc thay Hán Văn Đế lại không dùng”.
Đọc đến việc Hán Văn Đế, Bà nói: “Văn Đế có đủ hiền đức, kiệm ước, cung (cung kính), huệ (nhân huệ) đời sau ít người bằng. Đọc đối sách của Đống Trọng Thơ, đời Hán Võ Đế, đến câu “Nối theo đời trị thì đạo trị nước đồng như nhau, nói theo đời loạn thì đạo trị nước phải biến đổi”. Bà nói: “Nhà Hán nối sau nhà Tần, phong tục xa xỉ phù bạc, gọi là nói theo đời loạn. Vậy muốn chế trị phải đối đạo lại”. Bà nói thêm: “Võ Đế theo việc chinh phạt, thần tiên, tụ liễm (thâu góp của cải) công tác phân vân nhiều việc, thuở ấy tai biến cũng nhiều, mà dân không oán không loạn, là do Võ Đế đến tuổi già biết hối cải. Như Võ Đế, thực lực có chỗ hơn người, thạnh phước cũng có chỗ hơn người, còn như Tần Thỉ Hoàng thì tha hồ làm càn không biết hối ngộ, cho nên chung cuộc bị vong là phải lắm. Tổng luận lại thì Võ Đế công việc nửa đắc nửa thất, còn Thỉ Hoàng là trọn thất chứ không đắc”.
KHÔNG NÊN THAY ĐỔI NIÊN HIỆU VÌ DỊ ĐOAN
Đọc đến việc Hán Nguyên Đế phá miếu rồi làm lại miếu, Bà nói: “Các miếu ở ngoài quận quốc không nên kiến thiết đặng lấy hư danh, phá hủy đi để bớt lao phí là phải, chí như những miếu đã thành ở kinh sư, phá đi rồi làm lại, thì có thành sự thể gì đâu. Bà lại nói: “Các vua đời Hán đều nhân một tai biến hay một tường thụy, thường thường cai nguyên, nên có một đời vua mà có đến 7-8 niên hiệu rất phiền tạp, chi bằng thủy chung cứ để một niên hiệu cho biết vua ấy ở ngôi được dài ngắn. Huống chi tai biến hay tường thụy đều nhờ ở Trời chứ cái nguyên có ích gì đâu”.
Bà lại nói: “Đời vua Linh Đế người hiền rất đông mà không dùng, lại dùng bọn yểm loạn chuyên quyền rải độc, nên ngôi nhà Hán mới trọn mất, nếu dùng người hiền thì lịch niên chưa biết còn bao lâu nữa”.
PHÊ BÌNH NHÂN VẬT TAM QUỐC
Đọc đến đoạn Triệu Bao trước vì nước ra đánh giặc, sau vì mẹ phải tuẩn tử, bà nói: “Như vậy thì trung hiếu lưỡng toàn. Bọn Hà Tấn, Viên Thiệu đều thật vô mưu, sao chẳng từ từ liệu lượng dùng kế giết hết bọn hoạn đi, lại vội triệu binh ở ngoài về, khiến cho Đổng Trác sinh loạn có ích gì đâu. Sau Viên Thiệu lại làm minh chủ đem các đạo binh đánh Trác, mà Thiệu cũng không trù hoạch được kế sách tấn binh, chỉ luống ăn không ngồi rồi mà thôi, không phải là người tận tâm vương thất mà là bọn tầm thường vậy. Lưu Yên, Lưu Biểu đều dòng tôn thất nhà Hán cũng không ra sức đánh giặc, ấy là lòng gì vậy? Lại nói đến Hiến Đế không phải là hôn quân, chỉ vì đại quyền đã mất hết, luống ngồi giữ hư vị, nên không làm được việc, vã lại thuở ấy các người hiền, đã mắc hết vào hoạ “đắng cổ”, không ai giúp đỡ nhà vua, nếu được còn sót nguời hiền phụ tá thì ngôi nhà Hán chưa đến nổi chung vong. Họ Viên rất ngu, mà Thiệu lại ngu hơn, nếu nghe theo lời nói Thư Thọ đầu tiên ra rước Hiến Đế, thì quyền lực về mình đủ làm nên việc, và Tào Tháo còn biết dựa thế và đâu mà làm oai phúc được. Nước Thục thất sách ở chỗ đánh nước Ngô, là vì Quan Công thất trận, nên Lưu tiên chủ (Lưu Bị) thương nhớ không nguôi, khiến cho nôn lòng mở trí; thắng sứ Thục cùng Ngô hên hoa vinh viễn, chung mưu đánh Tào thì cơ nghiệp nhà Hán ngỏ hầu phục hưng được. Thục Hán nhờ có Khổng Minh nên định được cơ nghiệp “tam phân tinh túc”; sau Khổng Minh mất, Hán chủ cùng bọn Tưởng Uyển còn làm được việc gì. Nhưng Khổng Minh cũng biết vận nhà Hán không thể phục hưng, nên chỉ tận thần đạo mà thôi”.
Luận đến việc các vua đời Tấn, Bà nói: “Nhà Tấn sở dĩ suy bại đều do Huệ Đế ở ngôi lâu ngày mà vắng vẻ không nghe có lời nói chi bay, việc làm chi tốt, đến vua Hoài Đế, Văn Đế tuy ở ngôi mà ngôn hành còn có khả thứ, chỉ nhân sự thế đã trái rồi không thể làm được, hơn nữa đương thời các phương trấn đều đông binh tự vệ, tuyệt nhiên không có lòng cần vương”.
Lại nói: “Thuở ấy nhà Trần ở thiên về một góc đất nước, thế đã suy nhược, lại có bọn quyền thần hằng dấy nội loạn, nên không thể khôi phục”.
Bà đọc Bắc sử từ đời Chiến quốc xuống đến đời Tần, Ngụy, Lương, Trần, Tùy, Đường, Tống, trên dưới với ngàn năm, luận bàn chỉ hơn vài trăm lời mà phân tách có vị biện bạch là chính, viện dẫn có xác cứ, thật là phi phàm.
HỌC ĐẾN GIÀ CŨNG CHƯA CÙNG TẬN
Luận về việc học, Bà nói: “Công việc bá nghệ, nếu việc có khó lắm, mà lần hồi năm tháng học tập mãi cũng phải hay, còn học việc đạo lý thì học cho uyên bác sâu xa, càng học chừng nào càng tốt chừng nấy, được tấc ghi tấc, được thước ghi thước, tuy đến già cũng hông cùng tận, thật là việc rất khó”.
Thường hỏi đến việc quan lại đắc thất, Bà bảo vua rằng: “Việc hành chánh cốt tại đắc nhân (dùng được người tốt); đắc nhân thì quan lại xứng chức mà dân được an cư lạc nghiệp. Nay triều đình hằng ra ân trạch cho dân, mà nghe dân còn bị hoạn nạn cực khổ, có phải do bọn tham quan gây nên không? Nếu quan lại đắc nhân thì nước nhà không lo chi cả”.
Lại nói: “Quan chức tuy có lớn nhỏ khác nhau mà làm việc đến cần phải người giỏi, một huyện tuy nhỏ mà được một người công bình chính trực cai trị, thì ân oai thi thố cũng đủ nên việc, vậy thì chỗ dùng người cần phải cẩn thận. Ta thường nghe một thói quen: trong muôn ngàn việc chỉ tâu lên một đôi việc, như thế mà muốn khi trời thuận hoà, lúa thóc đặng mùa, dân an cư, trộm cướp không có, sao cho đặng”.
KHEN VÕ TRỌNG BÌNH THANH LIÊM
và NGUYỄN TRI PHƯƠNG CÔNG TRUNG CẨN CÁN
Vua thường khen Võ Trọng Bình thanh liêm, Nguyễn Tri Phương công trung cẩn cán, không từ sự mệt học, Bà nói: “Nếu được nhiều người như vậy, đặt ra mỗi tỉnh một người thì việc nước việc dân được bổ ích rất nhiều, mà vua cũng khỏi lo nhọc ngày đêm, ngặt còn nhiều người tham bóc lột của dân chúng không chán, mà lại không biết hối cải. Những cuả bất nghĩa không được lâu dài, may được vài đời mà đã khánh tận, sau con cháu cũng khổ, thiên hạ chê cười, chi bằng làm điều nhân nghĩa lưu truyền phước trạch báo dài”.
Bà ở trong thâm cung mà thường lo việc dân sinh tật khổ, nghe nói nào hữu sự hoặc thiên tai thì bùi ngùi không vui. Gặp năm đại hạn thì cầu mưa, vũ lạo thì cầu tạnh. Khi nghe ở biên cảnh cáo cấp, Bà than rằng: “Nhà nước dưỡng sĩ trăm năm, nay gặp lúc hữu dụng, sao không thấy có tướng tài ra để cáng đáng biên vụ, và lại những quan khoa mục xuất thân cũng nhiều, ngày bình nhật chẳng làm phước cho dân, ngày hậu sự chẳng hay dẹp giặc, vậy thì sở học để làm việc gì?”.
KHÔNG TƯỚI NƯỚC SÔI TRÊN BẦY KIẾN
Bà thường có hiếu sinh, hay răn vua về vụ đi săn bắn, ở cung Gia Thọ, trên thềm phía đông hiên có bầy kiến bò lên tụ hội tránh mưa. Người hầu cận lấy chổi quét không hết, muốn lấy nước sôi tưới. Bà ngó thấy khiến đừng tưới, rồi tự nói: “Bầy kiến nên đi cho mau, khéo bị người ta tưới nước sôi”. Bầy kiến lập tức kéo nhau đi hết. Vậy là lòng nhân của Bà hay cảm thông đến vạn vật. Lại có khi vua đem dâng một con chim có vết thương nhỏ, Bà khiến lấy thuốc thoa cho lành.
Tháng 6 năm thứ 36 (1883) vua Dực Tôn Anh Hoàng Đế băng có để di chiếu tấn tôn làm Từ Dũ Thái Hoàng Thái Hậu. Tháng 3 năm Hàm Nghi nguyên niên (1885) vua thân dẫn quần thần đến cung Gia Thọ tuân phụng di chiếu tấn tôn huy hiệu “Từ Dũ Thái Hoàng Thái Hậu”.
CHÍNH BIẾN 1885 – TAM CUNG TỴ NẠN
Tháng 5 năm ấy Kinh thành hữu sự, xe giá qua thâm cung tạm trú vừa gặp Tôn Thất Thuyết ở cửa tây nam, Thuyết bèn hộ giá qua Trường thi ở làng La Chữ, rồi đưa ra Hành cung Quảng Trị trú tất. Khi ấy Nguyễn Văn Tường ở lại Kinh thương thuyết giảng hoà xong với người Pháp, rồi phi tấu ra hành tại (chỗ vua ở tạm) và ủy Binh bộ thị lang Phạm Hữu Dụng thân hành đến tâu và nghinh giá về; Hữu Dụng đến, bị Thuyết trỏ chỉ không nghinh được. Thuyết bèn hộ giá vua ra Sơn Phùng Quảng Trị, và xin mời Bà và Lưỡng cung đồng đi, nhưng Bà và lưỡng cung có ý từ hồi ở lại. Thuyết đi trước vài ngày lại ủy người vào mời Tam cung theo ra. Vừa lúc tuần vũ Quảng Trị Trương Đăng Đán thương với Lương Thành (3) rằng: “Ở tỉnh thành Quảng Trị có nhiều gió bụi, Tam cung ở đây không tốt, xin mời Tam cung hồi loan và tư về cho Nguyễn Văn Tường biết. Tường được báo tin bèn đưa thư cho khâm sứ Champeaux thương với tướng De Courcy. Tướng này phúc: “Xin mời Tam cung hồi loan để cho nhân tâm khỏi rối loạn”. Tâu ra đến nơi, Tam cung chuẩn y. Ngày 3 tháng 6 hồi loan, trú tất ở Khiêm cung.
Thuở ấy tôn nhân, đình thần cùng sứ thần Pháp thương nghị hoà hảo, chỉ có vua chưa hồi giá, nhân tâm chưa có chỗ phụ thuộc. Bà chuẩn đem Thọ Xuân Vương Miên Định nhiếp lý quốc chánh, tất cả các việc phải tâu lên Tam cung thỉnh chi tuân hành.
________________________
(3) Lương Thành tự Duy Ninh con thứ tư của Hoàng Ngũ Từ Kiến An Vương.
KHÔNG CÓ PHÉP RŨ RÈM NGHE CHÍNH SỰ
Ngày 26 tháng 6 Pháp quan đưa thư nói: chúng giao thành trì lại cho ta, xin mời Tam cung đều về cung ở như cũ. Thư ấy tâu lên, Bà dụ rằng: “Nghe Pháp trả thành trì lại cho chúng ta, xin rước chúng tôi về cung, việc ấy đáng hoan hỷ lắm, huống chi gia pháp nước ta hướng lai không có phép “thùy liêm thính chánh”(3) , nay nên trước định đế vị cho có người chủ, nhiên hậu chúng tôi về cung mới ổn thôi. Vậy thì đình thần nên thương định phúc đáp thời nào cho có sự thể”.
Tháng 8 Nhiếp Chánh Thọ Xuân Vương Miên Định cùng đại thần Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Phùng cùng Pháp quan thương định đem con thứ hai Tiên đế là Kiên Giang quận công nối ngôi hoàng đế. Bà hạ chi chuẩn đoán. Ngày 6 tháng ấy cung nghinh Kiên Giang quận công vào thành, ngày 11 làm lễ tấn tôn. Sau khi tấn tôn xong, vua Đồng Khánh thân dẫn quần thần cung nghinh Tam cung về cung điện như cũ.
Ngày 20 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) vua thân dẫn hoàng thân, tôn nhân, văn võ quần thần, dâng kim sách, kim bửu tôn huy hiệu làm Từ Dũ Bác Huệ Thái Hoàng Thái Hậu.
Tháng 4 năm Thành Thái nguyên niên (1889) tấn tôn làm Từ Dũ Bác Huệ Khang Thọ Thái Thái Hoàng Thái Hậu.
Năm thứ 11 (1899) lại làm lễ Cửu tuần đại khánh tiết, ngũ đợi đồng đường.
Ngày 5 tháng 4 năm 13 (1901) Bà băng, thọ 92 tuổi. Tháng 5 năm ấy dâng tôn thụy là Nghi Thiên Tán Thánh Từ Dũ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương Hoàng Hậu.
Ngày 22 tháng 5 làm lễ ninh lăng ở núi phía hữu Xương lăng, gọi là Xương Thọ lăng. Lễ táng xong, rước thần chủ về điện Lương Khiêm nơi Khiêm cung, sau lễ đàm (mãn tang) nghinh thần chủ thăng phụ ở Thế miếu về án hữu nhất, và rước thành vị thăng phối ở điện Phụng Tiên về án hữu nhất.
Ôn lại những cử chỉ cao quí và những sự kiện lịch sử liên hệ đến bà Từ Dũ, chúng tôi muốn đưa ra ánh sáng những nét chính về đời tư cũng như đời công của một bậc “mẫu nghi thiên hạ” đã được toàn thể đồng bào Nam Việt sùng kính và đã được nhà cầm quyền xác nhận nhân phẩm và công đức trong danh xưng của một cơ quan y tế trọng đại vào bậc nhất nhì của thủ đô Sài Gòn.
Theo Đại Nam Chính biên Liệt truyện
_________________________
(3) Thùy liêm: rèm. Thính chánh: nghe chính sự, ý nói đàn bà ra triều rũ rèm xuống để
nghe chính sự trong nước.
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.