NHÀ NGHỈ MÁT – VIỆN NUÔI TRẺ MỒ CÔI
KINH SALICETTI – CẦU QUAN
(Go Cong – Le Bungalow – L’Orphelinat
L’Arroyo Salicetti – Le Pont Albert Sarraut)
PHẦN I
Xuất xứ: Trong tập ảnh Gò Công, trích từ tập ảnh nhà Photo Nadal – Sài Gòn trước các năm 1940.
Vị trí chụp là từ trên hành lang trên lầu Nam của Trường Quan, bây giờ vị trí là Trường Tiểu học Phường 1 Thị xã Gò Công.. Tôi cho là người chụp hình đứng trên lầu chụp ra vì trên hình thấy dòng nước quá hẹp, thật ra rộng trên 30 mét. Tôi từng đứng ở vị trí lầu nầy trong các năm cuối 1950 khi tôi dạy một lớp Nhứt trường Nam; ngày ngày tôi thấy mặt nước không còn là Kinh mà là Piscine, một đoạn đường thay vì cầu và hai tòa lầu còn y như trong hình.
Đây là bức ảnh hiếm vì nếu ai không từng thấy Nhà Bà Phước thì không thể đoán vị trí hình nầy. Đến giờ phút nầy cũng không còn thấy Nhà Bà Phước nữa vì tòa lầu đã bị triệt hạ tháng 9 – 2007 để cất thêm văn phòng cho Trường Mẩu giáo Bình Minh.
Cảnh vật trong hình kể cả ngôi lầu Trường Quan giờ không còn một tí gì lưu dấu.
Hình cho thấy một đoạn kinh, đó là Kinh Salicetti.
Bờ Bắc Kinh Salicetti không thấy trong hình vì là bên phía chụp hình, là con đường đá theo hướng Tây qua Đông chạy ngang Trường Nữ rồi Trường Nam qua Dinh Phó Tham biện qua Trại lính Gạc rồi ngoặc lên hướng Bắc gặp đường chạy qua Nhà thờ để ra Sơn Qui.
Cây cầu sắt thấp, tên trên giấy tờ là Cầu Albert Sarraut, người dân quen gọi là Cầu Quan
Hai tòa lầu trước tiên ngó ra con đường nhưa chạy dọc bờ Nam của Kinh Salicetti, hồi đó tên đường là Rue Đốc Phủ Đức, ngày nay đường mở rộng thêm lấn bên Kinh và là đường Hai Bà Trưng Hai tòa lầu ngó ra đường.
Tòa lầu thấy bên phải là Nhà nghỉ mát của thực dân Pháp tên tiếng Tây là Bungalow
Tòa nhà lầu bên trái là tòa lầu chánh của Viện mồ côi của các bà Sơ, dưới tượng thánh giá trên lầu có hàng chữ “Sœurs de Saint Paul” (Nữ tu giòng thánh Phao Lồ), dân chúng gọi thân thương là Nhà Bà Phước.
PHẦN II
CÁI THỜI CỦA KINH SALICETTI
Ở bài của hình Chợ Gò Công, tôi có trình bày quá trình thành lập làng Thành Phố làm tỉnh lỵ Gò Công của Pháp khi bình định toàn huyện Tân Hòa cũ từ năm 1864. Hai công trình Pháp thực hiện đầu tiên ở trung tâm làng Thành Phố là xây một tòa lầu làm pháo đài dạng lầu hình chữ thập (1868), trí súng bốn hướng ngừa tàn dư nghĩa quân của Trương Công Định. Dân thấy thành có lính khố đỏ, lính mộ của Tây, trú đóng nên gọi là thành “săn đá”; săn đá là gọi trại chữ Tây “soldats”, nghĩa đơn giản là “lính”. Vài năm sau thấy tình hình yên ổn Tây đổi thành lính làm trường học dạy chữ Quốc ngữ và chữ Tây. Thành săn đá ở trên bờ Bắc con rạch Cửa Khâu.
Viên Chánh Tham biện, tức Tỉnh trưởng Gò Công đầu tiên người Pháp à Trung úy Hải quân Guys là công trình sư qui hoạch làng làm tỉnh lỵ. Ông ta cho đào vét con rạch thiên nhiên là Rạch Cửa Khâu, tên chữ Hán là Khâu Giang. Rạch có vàm rộng giáp rạch Gò Công. Bắt đầu tại Bến Bạch Đằng bây giờ, chảy qua trường Kỹ Thuật, qua thư viện Hải Phòng qua Trường Nam chạy thẳng qua chỗ Cầu Tây Ban Nha, chảy qua Cầu Huyện chạy mãi rồi qua Cầu Giồng Nâu chạy qua Cầu Tăng Hòa rồi ra Cửa Tiểu.
Con rạch nầy thời cựu là thủy đạo từ chợ Gò Công ra phía Cửa Tiểu, ra biển.
Pháp nạo vét cả con rạch và đặt lại tên là Canal Salicetti. Riêng phần kinh nội thị Pháp sửa sang thành đoạn kinh đẹp đẽ và gọi L’Arroyo Salicetti, cũng là Kinh Salicetti phần nội thị. Hai bên mé Kinh nội thị cẩn đá và xây bực xuống từng đoạn để ghe xuồng cập mé lên xuống. Mé bên Nam, bên chợ có rào chắn bằng trụ xi măng giăng hai thanh “railles” sắt đứt khoảng chỗ có bực đá ghe xuồng đến đậu. Rào bên Nam nầy qua khỏi nhà Bà Phước đến ngõ ba rồi hết, thế bằng hàng cây ô môi Tây và mé kinh từ đấy không có kè đá.
Đọc theo Kinh mé Nam và Bắc đều có đường cặp theo: Đường mặt Nam tráng nhựa đẹp còn mãi đến giờ: đường Hai Bà Trưng. Đường cập mé Bắc thoạt đầu là con đường đá kể từ Vàm qua trước trường Nữ tới đầu đường Trần Hưng Đạo bây giờ, bị xoá các năm 1964 – 1965. Đoạn chạy qua Trường Quan tức trường Nam bây giờ vẫn còn nhưng tới đường đến Dinh Tỉnh trưởng rồi dứt. Đoạn tiếp bị xóa từ 1955…
Trở lại từ các năm đầu Tây vô 1868 cho đến năm 1943, phía Nam và Bắc con Kinh được nối bằng 3 cái cầu sắt. Lúc đó 2 bên bờ Kinh nội thị nầy đẹp lắm.
Cái cầu thứ nhứt bắc rất sớm, vét kinh xong là bắc để từ phía Nam qua cầu rẻ trái là đến thành săn đá sau là trường học, còn chạy thẳng là đến Dinh Chánh Tham biện (Dinh nầy duy nhất còn lại đang chờ trùng tu). Đây là chiếc cầu sắt đẹp tôi có mô tả ở các bài đăng rồi. Tôi có đi bộ qua lại trên cầu hai năm (1942 – 1943) để đi học. Cái cầu sắt Tây đặt tên là Cầu Albert Sarraut, tên một quan toàn quyền Pháp, người dân thấy cầu dẫn qua Dinh Quan Chánh Tham biện nên gọi là Cầu Quan và gọi luôn ngôi trường lầu chữ Thập là Trường Quan, dù rằng tên chánh thức bằng tiếng Tây nghĩa Việt là Trường Nam Tiểu học Gò Công. Cho tới 1943, chiếc cầu nối lền bên Nam bên Bắc. Từ Chợ xe đò chạy đi Sài Gòn hay về đều qua cầu nầy. Xe ngựa từ Chợ về các làng phía Bắc như Tân Niên Trung…phía Đông Bắc như Tân Niên Đông…hay Bình Ân thì qua Cầu Huyện.
Tiếp con Kinh còn hai chiếc cầu sắt nữa trong nội thị là Cầu Phủ (cầu sắt nhỏ nối đoạn đường phía Bắc qua Nhà Thờ và đoạn lộ Me phía Nam, cầu hư các năm đầu 1940 bị bán sắt vụn với Cầu Quan năm 1943, rôi sau lâu lắm từ 1967 có cái cầu gỗ nhỏ gọi là Cầu Tây Ban Nha, thành danh tới giờ. Còn cây Cầu Huyện dân Gò Công ai cũng biết vị trí, còn tên, nhưng cái Cầu Huyện đâu không thấy vì nó bị đốt đầu năm 1948. Họ không thấy cần bắc lại cầu sắt vì phía Cầu Quan đã đăt cống đắp đường rồi nên dở luôn sườn sắt đặt cống đắp đường. Giờ thì không còn cống, phía bên đông còn con kinh người ta quen gọi là sông Cầu Huyện bị lấn chiếm, vì là đoạn sông vô dụng.
PHẦN III
CÁI CHẾT CỦA CHIẾC CẦU,
PISCINE, HỒ TẮM RA ĐỜI
Năm 1940 Tây cho đào thêm một kinh phía Nam Kinh Salicetti, theo con rạch từ Vĩnh Lợi tới rạch sông Long Chiến thì chạy thẳng ở mặt Nam nội thị qua cây Cầu Đúc lên Yên luông Đông và Cầu Đúc Lò Heo đi Tăng Hoà rồi gặp Kinh Salicetti, lại tách băng qua Xóm Dinh, Xóm Vạn Thắng bằng cây Cầu Đúc nữa. Nó hướng về Đông đến làng Bình Ân qua cầu sắt thẳng ra làng Tân Bình Điền qua cầu cây xưa gọi Cầu Khỉ, giờ có cây cầu mới gọi là Cầu Tam Bản (thế cầu Tam Bản xưa ở Hộ Bắc không còn) rồi thoát ra biển ở Cửa Rạch Bùn.
Chính đoạn kinh thứ nhì có 2 cái cầu đúc, một là cầu đúc lên Yên Luông, một vô Tăng Hòa. Đoạn kinh Cầu Đúc nầy chạy qua miền Nam khu nội thị, nay vẫn còn, đã khiến khai tử đoạn Kinh Salicetti qua chợ và 3 cây cầu sắt sau nầy.
Đầu năm 1943, người ta đấp con đập, đặt cống qua kinh Salicetti ở hai đầu Bắc, Nam đường Trần Hưng Đạo bây giờ. Chặn kinh nối đường và xe không qua Cầu Quan nữa. Chúng tôi thấy vui, cũng đi qua trường bằng đường mới. Rồi người ta bắt đầu dở bỏ Cầu Quan. Dân dồn Tây cho dở cầu bán sắt vì thua trận bên nước Pháp. Nhưng không phải vậy. Viên Chánh tham biện Tây cuối cùng là Ropion có kế hoạch bỏ thủy đạo trên đoạn kinh nội thị nầy.
Sau khi cũng cố đập mới thành đường thông suốt cách Cầu Quan 100 mét về phía Tây hướng Chợ, Tây cho dở Cầu Quan. Dở Cầu Quan xong, họ cho đắp đất làm đường thế cầu, không đặt cống. Thế là có một đoạn kinh, ta thấy trên hình, trước Trường Quan được sửa sang, cẩn lại bậc đá bên bờ Bắc làm thành Piscine tức hồ tắm cho Chợ Gò Công.
Hồ tắm dài và rộng hơn bất cứ hồ tắm xây nào ở các tỉnh miền Nam và cả Sài Gòn. Người dân bắt đầu gọi hồ tắm là Piscine và tên Trường Quan bị quên dần, bắt đầu được gọi là Trường Nam Piscine. Hai phía của Piscine, con kinh đứt khúc, nước vẫn lớn vẫn ròng. Đoạn kinh bên chợ nán được 15 năm rồi thành đất, cất trường học nghề và nhà cửa. Bên Đông lâu lắm mới thành đất khi cầu Tây Ban Nha thành đường mới mươi năm nay.
Trở lại Piscine luôn đầy ấp nước, lâu lâu thay nước một lần. Nước là nước sông lấy khi nước lớn ỡ vàm bên phía chợ. Hồ đầy ấp nước cũng trong cũng sạch, không ô trọc, ngọt lợ tuỳ theo mùa. Thanh thiếu niên ở chợ bắt đầu đi tắm và bơi lội trên hồ. Lần lần các học trò lớn của trường Nam cũng xuống bơi lội, đùa giởn. Học trò hơi nhỏ có thể học bơi trong mé nhờ có bậc để hai tay bám vào. Thanh niên ở chợ khi tắm thì mặc quần cụt, còn học trò thì cởi quần áo gói tập vở để trên bờ và tấm trần truồng, gần đến giờ học thì nhảy lên bận quần áo và chạy vào trường.
Tôi lại có kỷ niệm với Piscine nầy.
Sau năm 1945, họ lại làm thêm cầu ván thấp ngang qua Piscine lối trước cửa Bưu Điện, để làm cầu nhảy. Các học trò và các bạn học của tôi còn học trường Nam, leo lên cầu ôm vật xô nhau xuống nước, vui thật là vui… Tôi không biết lội, học lội ở mé hồ và sau vài lần uống nước và một lần hụt tay chìm xuống đáy, may nhờ vớ trúng bậc đá cuối, lần theo bậc mà trồi lên. Hú vía và biết lội! Vẫn tắm trần truồng và đùa vui như thế cho đến năm 1949, tôi rời trường lên Sàigòn học tiếp trung học.
Năm 1955 tôi trở lại quê nhà, bắt đầu đi dạy ở trường làng và khi đi ngang Piscine để vào văn phòng Ty Học chánh tôi vẫn thấy các em học sinh, thế hệ thứ hai sau chúng tôi xưa, vẫn còn tắm truồng. Được biết lúc nầy thầy cũ của tôi là thầy Võ văn Giáp đang làm Hiệu trưởng Trường Nam. Trưa trước giờ học chừng nửa tiếng thầy thường đạp xe rảo chung quanh trường, gặp học sinh đổ xí ngầu thầy dừng lại tịch thu xí ngầu và chộp đứa đang chơi để phạt. Đặc biệt thầy thường đi bộ từ văn phòng ra bờ Piscine, nếu thấy học sinh bỏ quần áo trên mé tắm truồng, thầy cho gom hết. Trống đánh vào học, các học sinh nhảy lên bờ thấy mất quần áo tập vở và được biết ông Hiệu trưởng lấy, đứa nào đứa nấy xanh mặt chạy vào văn phòng Hiệu trưởng, đứng xếp hàng chờ phạt. Thường thì thọ phạt xong chờ thầy dạy lớp đến lảnh về. Năm 1957, tôi về dạy lớp Nhất trường Nam, chưa đầy một tuần đã được mời xuống văn phòng lảnh một tốp học trò “quí” tắm Piscine trước giờ học buổi chiều. Chắc có lẽ thầy Hiệu trưởng muốn nhắc nhở thầy giáo mới, bảo phải răn đe các em. Dẫn các em về lớp mà tôi nhớ lại mới mười năm trước, chúng tôi cũng tắm như thế nhưng may không bị lấy quần áo! Tôi chỉ nhỏ nhẹ cắt nghĩa cái hại khi đi tắm mà không chuẩn bị kỹ, tắm trước buổi phải vào học là cập rập, mệt vọp bẻ là chết đuối, piscine nước sâu v.v. vã lại đã học lớp Nhất rồi, tương lai đang đợi. Còn các em tắm truồng, tôi nghiêm mặt và rầy trước lớp: “Lớn tồng ngồng mà còn tắm truồng, bộ đây là dòng sông, con rạch ở quê nhà các em sao?”.
Sau đó học trò tôi không tái phạm nữa, nhưng mỗi khi dạy xong bài, tôi ra hành lang lớp trên lầu ngó ra Piscine. Ôi Piscine coi mênh mông mà hiền hoà, suốt cuộc tồn tại chỉ giúp học trò (chỉ hơi tiếc là chỉ riêng học trò nam thôi!) bơi lội đùa vui chưa lần nào gây mất mát. Tôi bâng khuâng nhớ mới ngày nào, nhớ tuổi học trò vô tư đùa nghịch. Đứng trên lầu đôi lần tôi tạm không thấy Piscine để tưởng tượng trước mặt là con kinh chạy từ vàm thanh thoát bên phải và bên trái tôi là chiếc Cầu Quan, chiếc cầu đi học đầu đời của tôi, phía đông xa xa chiếc Cầu Phủ nhạt nhoà, và ôi chiếc Cầu Huyện, một buổi sáng buồn mùa xuân 1948, cho rơi những ván lót còn ngún khói xuống dòng kinh…!
Suốt năm năm như thế, tôi đứng hành lang lớp học trên lầu trông ra.
Tôi tưởng thấy cảnh trước mặt y hịch như trên tấm hình trên vậy !
(Trích một bài viết trước)
Nay quí khách có đến trung tâm thị xã Gò Công, quí khách sẽ thấy cái công viên đẹp tên là Công viên Đài Chiến tích Xuân Mậu Thân tức là trọn trên mặt cái Piscine xưa. Cầu Quan là đoạn đường Lưu Thị Dung sau bức tượng. Trước công viên là đoạn đường Trân Hưng Đạo là con đập đắp qua Kinh năm 1943. Và xin quí khách biết cho những người Gò Công cố cựu như chúng tôi biết và gọi con kinh cũ là Kinh Salicetti.
PHAN THANH SẮC
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)

Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.