Showing posts with label Lăng Hoàng Gia. Show all posts
Showing posts with label Lăng Hoàng Gia. Show all posts
Huỳnh Minh
Cuộc thương thuyết ký kết hoà ước mồng 5 tháng 6 năm 1862 giữa Pháp và Việt phải trì hoãn, vì Hoàng đế Việt Nam không đành lòng giao nhượng vùng đất quê ngoại cho ngoại bang, nơi đây có nhiều mồ mả ông bà, nhiều di tích kỷ niệm thân yêu và sự mất còn liên hệ đến danh dự của Hoàng triều Nguyễn.
Những ngôi mộ này kiến trúc lối cổ xây bằng hồ ô dước nằm trên một giồng cát cao trông như hình con quy, chung quanh cây cối u huyền đầy vượng khí phải là nơi phát xuất bậc mẫu nghi trong thiên hạ, đất lành trổ sanh trái ngọt, đồng bào dân chúng tỉnh nhà cũng nhờ ảnh hưởng cuộc đất này mà phát đạt, nhiều người làm quan lớn, đúng với Địa linh trổ sanh Nhân kiệt.
Cảnh trí từ ngoài đường cái thẳng vô có một con lộ dài chừng 200 thước, bên trong có một đền thờ. Ở về mé bên phải có những ngôi mộ trước đầu có dựng bia đá cẩm thạch khắc ghi tên họ, ngày sanh và mất, chức tước của người an nghỉ dưới mồ.
Những ngôi mộ này ngoài ý nghĩa lịch sử và cũng là di tích đặc biệt của tỉnh Gò Công được bảo tồn từ trước đến nay.
Theo sử liệu cho biết thì bản Hoà ước, ký tại Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam triều, có một điều khoản quan trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thoả thuận như sau:
ĐIỀU KHOẢN 5.- Hoàng đế nước Nam nhìn nhận chủ quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:
- Phía Đông, đến biển Trung Hoa và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận).
- Phía Tây ranh giới vịnh Xiêm La.
- Phía Nam biển Trung Hoa.
- Phía Bắc nước Cao Miên và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận). Có cả thảy 11 ngôi mộ nhà họ Phạm, nằm trên địa phận làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và 3 ngôi mộ nhà họ Hồ ở trên địa phận làng Linh Chiểu Tây và Tân Mai tỉnh Biên Hoà, không ai được động phạm, đào xới, cải táng hay phá hủy.
Nhà nước cấp một sở đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một sở đất cũng rộng chừng ấy cho các ngôi mộ nhà họ Hồ. Huê lợi thâu được do hai sở đất này dành để giữ gìn các ngôi mộ và nuôi sống những gia đình lãnh trông nom các ngôi mộ này. Hai sở đất trên đây được miễn thuế; con em dòng dõi những gia đình này cũng được miễn thuế thân, làm xâu và đi quân dịch.
Năm ngôi mộ lớn nhà họ Phạm toạ lạc trên địa phận làng Tân Niên Đông cách Gò Công 5 cây số, đó là mộ của:
1) Phạm Đăng Dinh, nội tổ Phạm Đăng Hưng, sinh năm Bính Dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân Mùi (1776), hưởng thọ: 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần vua Tự Đức sắc phong Hàn Lâm Viện Chưởng Viện Học Sĩ tước Bình Thạnh Bá (Đệ tam đẳng Nam triều).
2) Phạm Đăng Long, cố ngoại vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Dinh, sanh năm Canh Tuất (1741), mất ngày 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810). Hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự Đức truy phong Tư Thiện Đại Phu (Nội vụ Thượng thơ) tước An Hầu thụy Trang Nghị Công (Đệ nhất đẳng).
3) Phan Thị Tánh, bà cố ngoại vua Tự Đức, vợ Ông Phạm Đăng Long mẹ của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Giáp Tý (1743) mất ngày Rằm tháng 9 Giáp Tuất (1841) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu Nhơn Đoan Khiết.
4) Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Long và Phạm Thị Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất Dậu (1764), mất ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825), làm Lễ Bộ Thượng Thơ dưới thời Minh Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự Đức truy phong Vinh Lộc Đại Phu Đức Quốc Công và tước Trung Nhã Công (Đệ nhất đẳng).
5) Phạm Thị Du, bà ngoại vua Tự Đức, vợ Phạm Đăng Hưng sanh năm Mậu Tý (1767) mất ngày 8 tháng 6 năm Tân Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy phong Nhất phẩm Đức Quốc Phu Nhân, thụy là Đoan Tử.
Trích ở tác phẩm Gò Công xưa và nay
Đọc thêm!
Cuộc thương thuyết ký kết hoà ước mồng 5 tháng 6 năm 1862 giữa Pháp và Việt phải trì hoãn, vì Hoàng đế Việt Nam không đành lòng giao nhượng vùng đất quê ngoại cho ngoại bang, nơi đây có nhiều mồ mả ông bà, nhiều di tích kỷ niệm thân yêu và sự mất còn liên hệ đến danh dự của Hoàng triều Nguyễn.
Những ngôi mộ này kiến trúc lối cổ xây bằng hồ ô dước nằm trên một giồng cát cao trông như hình con quy, chung quanh cây cối u huyền đầy vượng khí phải là nơi phát xuất bậc mẫu nghi trong thiên hạ, đất lành trổ sanh trái ngọt, đồng bào dân chúng tỉnh nhà cũng nhờ ảnh hưởng cuộc đất này mà phát đạt, nhiều người làm quan lớn, đúng với Địa linh trổ sanh Nhân kiệt.
Cảnh trí từ ngoài đường cái thẳng vô có một con lộ dài chừng 200 thước, bên trong có một đền thờ. Ở về mé bên phải có những ngôi mộ trước đầu có dựng bia đá cẩm thạch khắc ghi tên họ, ngày sanh và mất, chức tước của người an nghỉ dưới mồ.
Những ngôi mộ này ngoài ý nghĩa lịch sử và cũng là di tích đặc biệt của tỉnh Gò Công được bảo tồn từ trước đến nay.
Theo sử liệu cho biết thì bản Hoà ước, ký tại Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam triều, có một điều khoản quan trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thoả thuận như sau:
ĐIỀU KHOẢN 5.- Hoàng đế nước Nam nhìn nhận chủ quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:
- Phía Đông, đến biển Trung Hoa và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận).
- Phía Tây ranh giới vịnh Xiêm La.
- Phía Nam biển Trung Hoa.
- Phía Bắc nước Cao Miên và An Nam Vương Quốc (tỉnh Bình Thuận). Có cả thảy 11 ngôi mộ nhà họ Phạm, nằm trên địa phận làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và 3 ngôi mộ nhà họ Hồ ở trên địa phận làng Linh Chiểu Tây và Tân Mai tỉnh Biên Hoà, không ai được động phạm, đào xới, cải táng hay phá hủy.
Nhà nước cấp một sở đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một sở đất cũng rộng chừng ấy cho các ngôi mộ nhà họ Hồ. Huê lợi thâu được do hai sở đất này dành để giữ gìn các ngôi mộ và nuôi sống những gia đình lãnh trông nom các ngôi mộ này. Hai sở đất trên đây được miễn thuế; con em dòng dõi những gia đình này cũng được miễn thuế thân, làm xâu và đi quân dịch.
Năm ngôi mộ lớn nhà họ Phạm toạ lạc trên địa phận làng Tân Niên Đông cách Gò Công 5 cây số, đó là mộ của:
1) Phạm Đăng Dinh, nội tổ Phạm Đăng Hưng, sinh năm Bính Dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân Mùi (1776), hưởng thọ: 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần vua Tự Đức sắc phong Hàn Lâm Viện Chưởng Viện Học Sĩ tước Bình Thạnh Bá (Đệ tam đẳng Nam triều).
2) Phạm Đăng Long, cố ngoại vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Dinh, sanh năm Canh Tuất (1741), mất ngày 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810). Hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự Đức truy phong Tư Thiện Đại Phu (Nội vụ Thượng thơ) tước An Hầu thụy Trang Nghị Công (Đệ nhất đẳng).
3) Phan Thị Tánh, bà cố ngoại vua Tự Đức, vợ Ông Phạm Đăng Long mẹ của Phạm Đăng Hưng, sanh năm Giáp Tý (1743) mất ngày Rằm tháng 9 Giáp Tuất (1841) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu Nhơn Đoan Khiết.
4) Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức, con của Phạm Đăng Long và Phạm Thị Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất Dậu (1764), mất ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825), làm Lễ Bộ Thượng Thơ dưới thời Minh Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự Đức truy phong Vinh Lộc Đại Phu Đức Quốc Công và tước Trung Nhã Công (Đệ nhất đẳng).
5) Phạm Thị Du, bà ngoại vua Tự Đức, vợ Phạm Đăng Hưng sanh năm Mậu Tý (1767) mất ngày 8 tháng 6 năm Tân Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy phong Nhất phẩm Đức Quốc Phu Nhân, thụy là Đoan Tử.
Trích ở tác phẩm Gò Công xưa và nay
MỘ NGÀI BÌNH THẠNH BÁ PHẠM ĐĂNG DINH
(1657 - 1751). Thọ 95 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
MỘ NGÀI PHƯỚC AN HẦU PHẠM ĐĂNG LONG
( 1730 - 1798). Thọ 69 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
ĐOAN KHIẾT PHU NHƠN PHAN THỊ TÁNH
(1744 - 1814). Thọ 71 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
ĐỨC QUỐC CÔNG PHẠM ĐĂNG HƯNG
(1765 - 1825). Thọ 61 tuổi
Táng tại Giồng Sơn Qui-Gò Công
1
Xứ biển Gò Công
Nếu có dịp tới Tiền Giang, mời du khách ghé thăm 2 điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh, đó là: Lăng Hoàng Gia và Di tích khảo cổ Gò Thành.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, tọa lạc tại Giồng Sơn Quy (Gò Rùa), ngày nay thuộc ấp Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ông Võ Thành Sơn, người quản lý Khu Di tích lăng Hoàng Gia cho biết: Dòng họ Phạm đã sống lâu đời ở đất Gò Công. Ông Phạm Đăng Khoa là người khai hoang lập nghiệp ở xứ này.
Phạm Đăng Hưng là hậu duệ đời thứ tư, ông làm quan dưới triều Minh Mạng. Nhân dân thường gọi là ông “Ba Bị" vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang theo ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho nông dân nghèo những khi thiên tai, hạn hán, bão lụt. Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy. Năm 1825, Phạm Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được Vua Minh Mạng thăng hàm Vinh lộc đai phu, Trụ quốc hiệp biên, Đại học sĩ, Thụy Trung Nhã và đưa về an táng tại Sơn Quy.
Lăng mộ Phạm Đăng Hưng tọa lạc trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, diện tích hơn 800m². Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Trước mộ có tấm bia đá Cự Thạch. Năm 1849, Phạm Đăng Hưng được Vua Tự Đức gia phong, truy tặng Đặc tiến Kim Tử - Vinh Lộc Đại phu Thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sĩ, tước Đức quốc Công. Ông là ông ngoại vua Tự Đức, cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, tước Đức quốc công, nên nhà thờ ông được sửa sang theo kiến trúc và nghi thức cung đình, có đặt nhiều biển đại tự để thờ:
Gian chính giữa thờ Đức quốc Công Phạm Đăng Hưng.
Gian tả thờ ông Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
Gian tả ngoài cùng thờ ông Phạm Đăng Tiên (cố).
Gian hữu thờ ông Phạm Đăng Dinh (nội).
Gian cuối bên hữu thờ ông Phạm Đăng Khoa (sơ).
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, mang đậm phong cách truyền thống dân tộc qua các mảng chạm khắc trên mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh tứ quý" theo quan niệm phong thuỷ của người Á Đông. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên mát mẻ, có khá nhiều cây sứ cổ thụ, hoa lá cảnh vật bao bọc theo kiểu không gian nhà vườn xứ Huế.
http://www.vietbalo.vn/Tin_tuc_CT.aspx?id=3&id_i=1259
2
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa.
Sau khi thi đỗ Tam trường, với văn tài lỗi lạc, đặc biệt ông nổi tiếng hiền đức, siêng năng, nên được bổ nhiệm về kinh giữ chức Lễ Bộ Thượng Thư. Trong thời gian làm việc cho triều đình Huế, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như chưởng trưởng đà sự (trông coi đê điều), Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân), Quản Khâm Thiên Giám (phụ trách Thiên văn) và Quốc Sử quán tổng tài (người chỉ huy việc viết sử.
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Mùa hạ năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng thọ bệnh mất tại Huế, được mang về an táng tại quê nhà. Năm 1849, ông được Vua Tự Đức truy phong tước Đức Quốc Công. Khu Lăng mộ của ông đựơc người dân địa phương gọi là Lăng Hoàng Gia.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
3
Lăng hoàng giaẤp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công(Bộ VHTT công nhận di tích quốc gia, quyết định số 3959 QĐ/BT ngày 2/12/1992)Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là "toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và 821" (trích theo biên bản quy định khu vực bảo vệ di tích ngày 18/9/1992 tại Văn phòng UBND thị xã Gò Công).
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa [giồng Sơn Quy), ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản. Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới 2 triều Gia Long và Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là "Ba Bị" vì lúc làm "Điền tuấn quan", đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan "Lễ Sinh Nội Phủ" của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng tưởng dã sự (trông coi đê điều)
- Quan thâm thiên giám (trông coi thiên văn)
- Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân)
- Quốc sử quán tổng tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm "Vinh lộc đại phu, trụ quốc hiệp biên, Đại học sỹ, Thụy Trung Nhã" và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng "Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sỹ, tước Đức Quốc Công". Ông là cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lấy ý nghĩa trong khoa địa lý "cao nhất xích vi sơn", mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80cm, cao 90cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm 2 vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800m2. Mộ không xây theo kiểu "Ngưu phanh, mã phục" (trâu nằm, ngựa qùy) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng "Đỉnh trụ" (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá Cẩm Thạch hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ Hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2987m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ MƯ Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình thạnh Bà Phạm Đăng Danh
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh, tứ quý" trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Aá Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 x 120 x 15cm bằng đá hoa cương.
- 7 biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm tứ linh, tứ quý.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2m rộng 1,2m chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại 4 bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
4
TRÊN BÁO HẬU GIANG
Lăng Hoàng Gia
Ngày cập nhật: 12-09-2008
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, được xây vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng - ông ngoại vua Tự Đức và là thân phụ của Từ Dũ Thái hậu - vợ vua Thiệu Trị. Khu lăng mộ này tọa lạc tại ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, với diện tích khoảng 3.000 m2.
Phạm Đăng Hưng, tự Khiết Cự, người Gò Công, sinh năm 1764, tại Gò Rùa, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công). Ông là người rất thông minh, ham học, văn võ song toàn và nổi tiếng là người hiền đức, siêng năng, liêm khiết, khiến cho vua Minh Mạng phải khâm phục, nể trọng. Năm 1784, ông thi đỗ Tam trường được bổ về kinh làm “Lễ bộ Thượng thư”. Sau đó, ông được giao giữ nhiều trọng trách quan trọng, như: Chưởng trưởng Đà sự, Quản khâm thiên giám, rồi Tổng tài quốc sử quán... Bốn người con của ông đều làm quan to trong triều. Ông được vua Minh Mạng kết thông gia, gả công chúa cho Phạm Đăng Thuật (con trai ông) và phong cho tước Phò mã đô úy. Đồng thời, vua cho Thái tử Miên Tông kết duyên cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Về sau, Thái hậu Từ Dũ được xem như một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Mùa hạ năm 1825, Phạm Đăng Hưng mất vì bệnh (thọ 61 tuổi), được đưa về Sơn Quy an táng. Năm 1849, ông được vua Tự Đức gia tặng “Đặc Tiến kim tử - Vinh Lộc đại phu Thái Bảo, Cần chánh điện Đại học sĩ”, tước Đức Quốc Công.
Hiện nay, khu lăng mộ ông ngày đêm có người túc trực hương khói. Không gian bốn bề tĩnh lặng, không khí trong lành, nhiều cây cổ thụ rợp mát xung quanh nên nơi đây thường đón một lượng lớn du khách đến tham quan. Từ thị xã Gò Công du khách đi khoảng 3 km là đến khu lăng mộ này. Đường dẫn vào lăng mát rượi, yên tĩnh. Điều đập vào mắt du khách đầu tiên là cổng tam quan, phủ nhiều lớp rêu phong. Sau cổng này là nhà thờ bề thế, được cất theo kiến trúc cung đình. Tương truyền đây là ngôi đền do trưởng nam của Phạm Đăng Hưng là ông Phạm Đăng Tá cho xây dựng từ năm 1888 và được trùng tu vào năm Tân Dậu. Đền thờ gồm ba gian hai chái bằng gỗ quý để có nơi chăm lo hương khói. Bên trong rộng rãi, thoáng mát. Có nhiều cột gỗ to nâng mái nóc. Đặc biệt trong này còn có một hàng bài vị được sắp hàng ngang để thờ những người trong dòng tộc của ông. Trên nóc mái có tượng rồng tranh lấy quả châu, tạo thêm dáng vẻ uy nghiêm cho khu nhà thờ.
Cách nhà thờ khoảng 500 m, bên tay phải của du khách là phần mộ của ông. Phần mộ này được xây theo dạng đỉnh trụ hình nón lá buông của nông dân địa phương, xung quanh trang trí tám đóa sen. Bình phong ở giữa vòng rào quanh mộ được chạm nổi năm con sư tử, tượng trưng cho ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam - ngụ ý năm đời danh giá, điềm lành có kỳ lân xuất hiện. Tương truyền Phạm Đăng Hưng được chôn ở tư thế ngồi và trong quan ngoài quách. Lăng được tọa lạc trên một vùng đất gò cao ráo của toàn khu vực, có hình con rùa nên dân gian còn gọi Gò Rùa. Vua Tự Đức đổi thành Sơn Quy.
Với những giá trị về lịch sử, văn hóa mà khu lăng mộ mang lại, ngày 2-12-1992, Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận khu lăng mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia. Hành trình đến Tiền Giang, Lăng Hoàng Gia là điểm đến không thể bỏ qua của mọi du khách.
Bài, ảnh: TRẦN KIỀU QUANG
5
Lăng Hoàng Gia tên gọi bao gồm mộ chí và nhà thờ dòng họ Phạm, là "Thích Lý" (họ ngoại của Tự Đức). Khu di tích này nằm tại Giồng Sơn Quy thuộc thị xã Gò Công. Nhân dân địa phương gọi di tích này là Lăng Hoàng Gia. Âấp có di tích này mang tên ấp Hoàng Gia, xã Sơn Quy, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Từ 1987, Lăng Hoàng Gia nằm trong ấp Hoàng Gia thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Nằm trọn trong xóm dân cư, Lăng Hoàng Gia ở địa thế thuận lợi cho đường ô tô đến di tích nên dễ quy hoạch thành nơi tham quan du lịch.
Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới 2 triều Gia Long và Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là "Ba Bị" vì lúc làm "Điền tuấn quan", đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy, ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan "Lễ Sinh Nội Phủ" của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng tưởng dã sự (trông coi đê điều)
- Quan thâm thiên giám (trông coi thiên văn)
- Quốc sử quán tổng tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm "Vinh lộc đại phu, trụ quốc hiệp biên, Đại học sỹ, Thụy Trung Nhã" và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng "Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sỹ, tước Đức Quốc Công". Ông là cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lấy ý nghĩa trong khoa địa lý "cao nhất xích vi sơn", mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Khu di tích bao gồm nhà thờ họ Phạm với diện tích 199m2, ngoài mộ Phạm Đăng Hưng và 6 ngôi mộ tổ họ Phạm còn có 8 ngôi mộ quan trọng khác chôn tại Sơn quy.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80cm, cao 90cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm 2 vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800m2. Mộ không xây theo kiểu "Ngưu phanh, mã phục" (trâu nằm, ngựa qùy) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng "Đỉnh trụ" (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá CƯm Thạch hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2987m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ MƯ Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình thạnh Bà Phạm Đăng Danh
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Năm 1889, sau khi Thành Thái lên ngôi, đang chuƯn bị vào thăm nên có tu sửa thêm nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng, làm 5 tấm biển của Ngũ Tước, tường hồ và cổng bằng gạch theo phong cách phương Tây.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh, tứ quý" trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Aá Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 x 120 x 15cm bằng đá hoa cương.
- 7 biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm tứ linh, tứ quý.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2m rộng 1,2m chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại 4 bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Gò Công nói riêng. Vì Phạm Đăng Hưng và dòng họ của ông là những người vào đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII, nên hiện nay còn một trong 4 đời của ông tại Sơn Quy.
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là công trình kiến trúc nghệ thuật hài hòa giữa Á và Âu, nhưng mang đậm nét truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các mảng chạm khắc trong nhà thờ và trên mộ.
Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là "toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và 821" (trích theo biên bản quy định khu vực bảo vệ di tích ngày 18/9/1992 tại Văn phòng UBND thị xã Gò Công)
6
Thăm Lăng Hoàng Gia
Trên báo sài gòn giải phóng
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa.
Sau khi thi đỗ Tam trường, với văn tài lỗi lạc, đặc biệt ông nổi tiếng hiền đức, siêng năng, nên được bổ nhiệm về kinh giữ chức Lễ Bộ Thượng Thư. Trong thời gian làm việc cho triều đình Huế, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như chưởng trưởng đà sự (trông coi đê điều), Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân), Quản Khâm Thiên Giám (phụ trách Thiên văn) và Quốc Sử quán tổng tài (người chỉ huy việc viết sử).
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Mùa hạ năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng thọ bệnh mất tại Huế, được mang về an táng tại quê nhà. Năm 1849, ông được Vua Tự Đức truy phong tước Đức Quốc Công. Khu Lăng mộ của ông đựơc người dân địa phương gọi là Lăng Hoàng Gia.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Hiện nay các công ty du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh như Lửa Việt, Nam Phương đều có chương trình tham quan Lăng Hoàng Gia kết hợp thăm đền thờ anh hùng Trương Định và các thắng cảnh ở vùng Gò Công. Giá tour từ 75.000 đồng đến 100.000đồng/người, đi về trong ngày. Còn nếu sử dụng phương tiện xe gắn máy, du khách có thể đi theo ngõ liên tỉnh 5, qua cầu Nhị Thiên Đường, đến Cần Đước, rồi từ đó qua phà Mỹ Lợi. Từ trung tâm TPHCM đến Lăng Hoàng Gia khoảng 60k
SGGP Online - 22/12/ 2004
7
Lăng Hoàng Gia: Quần thể kiến trúc độc đáo ở Gò Công
Lăng Hoàng Gia là nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng – một dòng họ nổi tiếng ở Nam Bộ vào thế kỷ 18, 19. Khu lăng này tọa lạc trên gò Sơn Quy (nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang) cách TP. Mỹ Tho khoảng 30km.
Cổng vào Lăng Hoàng Gia. Ảnh: Internet
Gò Sơn Quy là một giồng khá cao có hình dáng như một con Rùa nằm, khi đến Gò Công Phạm Đăng Dinh đã chọn đất này để sống và các đời kế tiếp của dòng họ Phạm cũng sinh sống tại nơi đây, đã có 13 người qua đời được xây lăng mộ tại đây trong khoảng thời gian 1811 đến đầu thế kỷ 20.
Đặc biệt, trong những lăng mộ đó là của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng (ông ngọai của Vua Tự Đức) là một kiến trúc tâm điểm, độc đáo trong quần thể lăng mộ này. Phần mộ được xây dựng từ năm 1825, hình bát giác mang dáng dấp của một chiếc nón quan trong triều, khác với những mộ ở Nam Bộ.
Trước mộ có bốn trụ thấp cách điệu giữa búp sen va chiếc nón, ngoài ra bình phong được xây khá cầu kỳ, đường nét uyển chuyển làm cho ngôi mộ trở nên cổ kính và uy nghiêm.
Theo sử liệu, dòng họ Phạm có nguồn gốc như sau: cuối thế kỷ 17, tiến sĩ Phạm Đăng Khoa từ đất Thăng Long tránh loạn Trịnh Tùng theo Chúa Nguyễn từ Ái Tử (Quảng Trị) vào Phú Xuân (Huế), có vợ là Nguyễn Thị Dương rồi sinh được 3 con trai, sau đó ông mất tại Phú Xuân, thọ 91 tuổi. Con Phạm Đăng Khoa là Phạm Đăng Tiên, con trai của Phạm Đăng Tiên là Phạm Đăng Dinh, con trai thứ của Phạm Đăng Dinh là Phạm Đăng Long, con trai thứ của Phạm Đăng Long là Phạm Đăng Hưng. Phạm Đăng Hưng có vợ là Phạm Thị Dụ sinh được 2 người con trai và 1 người con gái là Phạm Thị Hàng, sau trở thành Chương Hoàng Hậu là vợ của Vua Thiệu Trị, mẹ của Vua Tự Đức, đây còn là một hiền phụ nổi tiếng Việt Nam thời đó. Hầu hết, những người con của họ Phạm đều là những nhà nho học và giữ chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn.

Quang cảnh bên trong Lăng Hoàng Gia
Trong hợp thể kiến trúc tại Lăng Hoàng Gia còn có một kiến trúc quan trọng nữa là ngôi từ đường của dòng họ Phạm Đăng. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826 gồm: một nhà thờ, nhà khách, nhà kho cùng các công trình phụ đều được làm bằng gỗ quý và trang trí đẹp.
Có thể nói đây là một quần thể kiến trúc xưa và lạ, bởi đây là nơi yên nghỉ của dòng họ làm quan nhiều đời và là họ ngoại của các ông vua Nguyễn. Du khách đến đây có thể tìm thấy được những di tích của một giai đoạn lịch sử đã qua ẩn hiện đâu đó trong từng phần của khu lăng mộ.
Đọc thêm!
Xứ biển Gò Công
Nếu có dịp tới Tiền Giang, mời du khách ghé thăm 2 điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh, đó là: Lăng Hoàng Gia và Di tích khảo cổ Gò Thành.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, tọa lạc tại Giồng Sơn Quy (Gò Rùa), ngày nay thuộc ấp Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.Ông Võ Thành Sơn, người quản lý Khu Di tích lăng Hoàng Gia cho biết: Dòng họ Phạm đã sống lâu đời ở đất Gò Công. Ông Phạm Đăng Khoa là người khai hoang lập nghiệp ở xứ này.
Phạm Đăng Hưng là hậu duệ đời thứ tư, ông làm quan dưới triều Minh Mạng. Nhân dân thường gọi là ông “Ba Bị" vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang theo ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho nông dân nghèo những khi thiên tai, hạn hán, bão lụt. Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy. Năm 1825, Phạm Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được Vua Minh Mạng thăng hàm Vinh lộc đai phu, Trụ quốc hiệp biên, Đại học sĩ, Thụy Trung Nhã và đưa về an táng tại Sơn Quy.
Lăng mộ Phạm Đăng Hưng tọa lạc trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, diện tích hơn 800m². Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Trước mộ có tấm bia đá Cự Thạch. Năm 1849, Phạm Đăng Hưng được Vua Tự Đức gia phong, truy tặng Đặc tiến Kim Tử - Vinh Lộc Đại phu Thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sĩ, tước Đức quốc Công. Ông là ông ngoại vua Tự Đức, cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, tước Đức quốc công, nên nhà thờ ông được sửa sang theo kiến trúc và nghi thức cung đình, có đặt nhiều biển đại tự để thờ:
Gian chính giữa thờ Đức quốc Công Phạm Đăng Hưng.
Gian tả thờ ông Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
Gian tả ngoài cùng thờ ông Phạm Đăng Tiên (cố).
Gian hữu thờ ông Phạm Đăng Dinh (nội).
Gian cuối bên hữu thờ ông Phạm Đăng Khoa (sơ).
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, mang đậm phong cách truyền thống dân tộc qua các mảng chạm khắc trên mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh tứ quý" theo quan niệm phong thuỷ của người Á Đông. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên mát mẻ, có khá nhiều cây sứ cổ thụ, hoa lá cảnh vật bao bọc theo kiểu không gian nhà vườn xứ Huế.
http://www.vietbalo.vn/Tin_tuc_CT.aspx?id=3&id_i=1259
2
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa.
Sau khi thi đỗ Tam trường, với văn tài lỗi lạc, đặc biệt ông nổi tiếng hiền đức, siêng năng, nên được bổ nhiệm về kinh giữ chức Lễ Bộ Thượng Thư. Trong thời gian làm việc cho triều đình Huế, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như chưởng trưởng đà sự (trông coi đê điều), Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân), Quản Khâm Thiên Giám (phụ trách Thiên văn) và Quốc Sử quán tổng tài (người chỉ huy việc viết sử.
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Mùa hạ năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng thọ bệnh mất tại Huế, được mang về an táng tại quê nhà. Năm 1849, ông được Vua Tự Đức truy phong tước Đức Quốc Công. Khu Lăng mộ của ông đựơc người dân địa phương gọi là Lăng Hoàng Gia.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
3
Lăng hoàng giaẤp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công(Bộ VHTT công nhận di tích quốc gia, quyết định số 3959 QĐ/BT ngày 2/12/1992)Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là "toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và 821" (trích theo biên bản quy định khu vực bảo vệ di tích ngày 18/9/1992 tại Văn phòng UBND thị xã Gò Công).
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa [giồng Sơn Quy), ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản. Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới 2 triều Gia Long và Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là "Ba Bị" vì lúc làm "Điền tuấn quan", đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan "Lễ Sinh Nội Phủ" của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng tưởng dã sự (trông coi đê điều)
- Quan thâm thiên giám (trông coi thiên văn)
- Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân)
- Quốc sử quán tổng tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm "Vinh lộc đại phu, trụ quốc hiệp biên, Đại học sỹ, Thụy Trung Nhã" và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng "Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sỹ, tước Đức Quốc Công". Ông là cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lấy ý nghĩa trong khoa địa lý "cao nhất xích vi sơn", mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80cm, cao 90cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm 2 vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800m2. Mộ không xây theo kiểu "Ngưu phanh, mã phục" (trâu nằm, ngựa qùy) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng "Đỉnh trụ" (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá Cẩm Thạch hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ Hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2987m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ MƯ Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình thạnh Bà Phạm Đăng Danh
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh, tứ quý" trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Aá Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 x 120 x 15cm bằng đá hoa cương.
- 7 biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm tứ linh, tứ quý.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2m rộng 1,2m chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại 4 bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
4
TRÊN BÁO HẬU GIANG
Lăng Hoàng Gia
Ngày cập nhật: 12-09-2008
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, được xây vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng - ông ngoại vua Tự Đức và là thân phụ của Từ Dũ Thái hậu - vợ vua Thiệu Trị. Khu lăng mộ này tọa lạc tại ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, với diện tích khoảng 3.000 m2.Phạm Đăng Hưng, tự Khiết Cự, người Gò Công, sinh năm 1764, tại Gò Rùa, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công). Ông là người rất thông minh, ham học, văn võ song toàn và nổi tiếng là người hiền đức, siêng năng, liêm khiết, khiến cho vua Minh Mạng phải khâm phục, nể trọng. Năm 1784, ông thi đỗ Tam trường được bổ về kinh làm “Lễ bộ Thượng thư”. Sau đó, ông được giao giữ nhiều trọng trách quan trọng, như: Chưởng trưởng Đà sự, Quản khâm thiên giám, rồi Tổng tài quốc sử quán... Bốn người con của ông đều làm quan to trong triều. Ông được vua Minh Mạng kết thông gia, gả công chúa cho Phạm Đăng Thuật (con trai ông) và phong cho tước Phò mã đô úy. Đồng thời, vua cho Thái tử Miên Tông kết duyên cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Về sau, Thái hậu Từ Dũ được xem như một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Mùa hạ năm 1825, Phạm Đăng Hưng mất vì bệnh (thọ 61 tuổi), được đưa về Sơn Quy an táng. Năm 1849, ông được vua Tự Đức gia tặng “Đặc Tiến kim tử - Vinh Lộc đại phu Thái Bảo, Cần chánh điện Đại học sĩ”, tước Đức Quốc Công.
Hiện nay, khu lăng mộ ông ngày đêm có người túc trực hương khói. Không gian bốn bề tĩnh lặng, không khí trong lành, nhiều cây cổ thụ rợp mát xung quanh nên nơi đây thường đón một lượng lớn du khách đến tham quan. Từ thị xã Gò Công du khách đi khoảng 3 km là đến khu lăng mộ này. Đường dẫn vào lăng mát rượi, yên tĩnh. Điều đập vào mắt du khách đầu tiên là cổng tam quan, phủ nhiều lớp rêu phong. Sau cổng này là nhà thờ bề thế, được cất theo kiến trúc cung đình. Tương truyền đây là ngôi đền do trưởng nam của Phạm Đăng Hưng là ông Phạm Đăng Tá cho xây dựng từ năm 1888 và được trùng tu vào năm Tân Dậu. Đền thờ gồm ba gian hai chái bằng gỗ quý để có nơi chăm lo hương khói. Bên trong rộng rãi, thoáng mát. Có nhiều cột gỗ to nâng mái nóc. Đặc biệt trong này còn có một hàng bài vị được sắp hàng ngang để thờ những người trong dòng tộc của ông. Trên nóc mái có tượng rồng tranh lấy quả châu, tạo thêm dáng vẻ uy nghiêm cho khu nhà thờ.
Cách nhà thờ khoảng 500 m, bên tay phải của du khách là phần mộ của ông. Phần mộ này được xây theo dạng đỉnh trụ hình nón lá buông của nông dân địa phương, xung quanh trang trí tám đóa sen. Bình phong ở giữa vòng rào quanh mộ được chạm nổi năm con sư tử, tượng trưng cho ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam - ngụ ý năm đời danh giá, điềm lành có kỳ lân xuất hiện. Tương truyền Phạm Đăng Hưng được chôn ở tư thế ngồi và trong quan ngoài quách. Lăng được tọa lạc trên một vùng đất gò cao ráo của toàn khu vực, có hình con rùa nên dân gian còn gọi Gò Rùa. Vua Tự Đức đổi thành Sơn Quy.
Với những giá trị về lịch sử, văn hóa mà khu lăng mộ mang lại, ngày 2-12-1992, Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận khu lăng mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia. Hành trình đến Tiền Giang, Lăng Hoàng Gia là điểm đến không thể bỏ qua của mọi du khách.
Bài, ảnh: TRẦN KIỀU QUANG
5
Lăng Hoàng Gia tên gọi bao gồm mộ chí và nhà thờ dòng họ Phạm, là "Thích Lý" (họ ngoại của Tự Đức). Khu di tích này nằm tại Giồng Sơn Quy thuộc thị xã Gò Công. Nhân dân địa phương gọi di tích này là Lăng Hoàng Gia. Âấp có di tích này mang tên ấp Hoàng Gia, xã Sơn Quy, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Từ 1987, Lăng Hoàng Gia nằm trong ấp Hoàng Gia thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Nằm trọn trong xóm dân cư, Lăng Hoàng Gia ở địa thế thuận lợi cho đường ô tô đến di tích nên dễ quy hoạch thành nơi tham quan du lịch.
Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới 2 triều Gia Long và Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là "Ba Bị" vì lúc làm "Điền tuấn quan", đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy, ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan "Lễ Sinh Nội Phủ" của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng tưởng dã sự (trông coi đê điều)
- Quan thâm thiên giám (trông coi thiên văn)
- Quốc sử quán tổng tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm "Vinh lộc đại phu, trụ quốc hiệp biên, Đại học sỹ, Thụy Trung Nhã" và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng "Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sỹ, tước Đức Quốc Công". Ông là cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lấy ý nghĩa trong khoa địa lý "cao nhất xích vi sơn", mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Khu di tích bao gồm nhà thờ họ Phạm với diện tích 199m2, ngoài mộ Phạm Đăng Hưng và 6 ngôi mộ tổ họ Phạm còn có 8 ngôi mộ quan trọng khác chôn tại Sơn quy.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80cm, cao 90cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm 2 vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800m2. Mộ không xây theo kiểu "Ngưu phanh, mã phục" (trâu nằm, ngựa qùy) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng "Đỉnh trụ" (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá CƯm Thạch hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2987m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ MƯ Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình thạnh Bà Phạm Đăng Danh
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Năm 1889, sau khi Thành Thái lên ngôi, đang chuƯn bị vào thăm nên có tu sửa thêm nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng, làm 5 tấm biển của Ngũ Tước, tường hồ và cổng bằng gạch theo phong cách phương Tây.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh, tứ quý" trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Aá Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 x 120 x 15cm bằng đá hoa cương.
- 7 biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm tứ linh, tứ quý.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2m rộng 1,2m chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại 4 bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Gò Công nói riêng. Vì Phạm Đăng Hưng và dòng họ của ông là những người vào đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII, nên hiện nay còn một trong 4 đời của ông tại Sơn Quy.
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là công trình kiến trúc nghệ thuật hài hòa giữa Á và Âu, nhưng mang đậm nét truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các mảng chạm khắc trong nhà thờ và trên mộ.
Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là "toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và 821" (trích theo biên bản quy định khu vực bảo vệ di tích ngày 18/9/1992 tại Văn phòng UBND thị xã Gò Công)
6
Thăm Lăng Hoàng Gia
Trên báo sài gòn giải phóng
Lăng Hoàng Gia Gò Công, Tiền Giang được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng, ông ngoại Vua Tự Đức và là thân phụ của bà Từ Dũ thái hậu. Phạm Đăng Hưng là người Gò Công, ông sinh năm 1764 tại Gò Rùa.
Sau khi thi đỗ Tam trường, với văn tài lỗi lạc, đặc biệt ông nổi tiếng hiền đức, siêng năng, nên được bổ nhiệm về kinh giữ chức Lễ Bộ Thượng Thư. Trong thời gian làm việc cho triều đình Huế, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như chưởng trưởng đà sự (trông coi đê điều), Lập xã Thương (lo cứu đói cho nhân dân), Quản Khâm Thiên Giám (phụ trách Thiên văn) và Quốc Sử quán tổng tài (người chỉ huy việc viết sử).
Không những chỉ cá nhân ông giữ những chức vụ quan trọng mà các người con của ông cũng làm quan to trong triều đình.
Vua Minh Mạng rất khâm phục tài và đức của ông nên đã gả con gái cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật, phong tước Phò Mã đô uý đồng thời Vua Minh Mạng cũng đã cho Thái tử Miêu Tông kết hôn cùng con gái ông là Phạm Thị Hằng (tức là bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ – sinh năm 1910 tại Giềng Sơn Quy – Gò Công). Khi vua Minh Mạng qua đời, Miêu Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
Mùa hạ năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng thọ bệnh mất tại Huế, được mang về an táng tại quê nhà. Năm 1849, ông được Vua Tự Đức truy phong tước Đức Quốc Công. Khu Lăng mộ của ông đựơc người dân địa phương gọi là Lăng Hoàng Gia.
Lăng Hoàng Gia nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km, được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2. Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ địa phương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.
Lăng không thật đồ sộ nhưng cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Nhiều người đến thăm lăng đều ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng. Nét độc đáo của lăng là nghệ thuật chạm khắc.
Từ các ba-lam gỗ cho đến các phù điêu trong từ mặt ngoài của lăng đều được chạm khắc sắc sảo, gãy gọn, toát lên vẻ tôn nghiêm rất mực của một khu mộ, nơi yên nghỉ của một trong những văn thần nổi tiếng của triều Nguyễn. Với nghệ thuật kiến trúc thuộc loại bậc thầy, lại hài hoà với thiên nhiên, Lăng Hoàng Gia xứng đáng là một trong những di sản kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn phong cách cung đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Hiện nay các công ty du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh như Lửa Việt, Nam Phương đều có chương trình tham quan Lăng Hoàng Gia kết hợp thăm đền thờ anh hùng Trương Định và các thắng cảnh ở vùng Gò Công. Giá tour từ 75.000 đồng đến 100.000đồng/người, đi về trong ngày. Còn nếu sử dụng phương tiện xe gắn máy, du khách có thể đi theo ngõ liên tỉnh 5, qua cầu Nhị Thiên Đường, đến Cần Đước, rồi từ đó qua phà Mỹ Lợi. Từ trung tâm TPHCM đến Lăng Hoàng Gia khoảng 60k
SGGP Online - 22/12/ 2004
7
Lăng Hoàng Gia: Quần thể kiến trúc độc đáo ở Gò Công
Lăng Hoàng Gia là nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng – một dòng họ nổi tiếng ở Nam Bộ vào thế kỷ 18, 19. Khu lăng này tọa lạc trên gò Sơn Quy (nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang) cách TP. Mỹ Tho khoảng 30km.
Cổng vào Lăng Hoàng Gia. Ảnh: Internet
Gò Sơn Quy là một giồng khá cao có hình dáng như một con Rùa nằm, khi đến Gò Công Phạm Đăng Dinh đã chọn đất này để sống và các đời kế tiếp của dòng họ Phạm cũng sinh sống tại nơi đây, đã có 13 người qua đời được xây lăng mộ tại đây trong khoảng thời gian 1811 đến đầu thế kỷ 20.
Đặc biệt, trong những lăng mộ đó là của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng (ông ngọai của Vua Tự Đức) là một kiến trúc tâm điểm, độc đáo trong quần thể lăng mộ này. Phần mộ được xây dựng từ năm 1825, hình bát giác mang dáng dấp của một chiếc nón quan trong triều, khác với những mộ ở Nam Bộ.
Trước mộ có bốn trụ thấp cách điệu giữa búp sen va chiếc nón, ngoài ra bình phong được xây khá cầu kỳ, đường nét uyển chuyển làm cho ngôi mộ trở nên cổ kính và uy nghiêm.
Theo sử liệu, dòng họ Phạm có nguồn gốc như sau: cuối thế kỷ 17, tiến sĩ Phạm Đăng Khoa từ đất Thăng Long tránh loạn Trịnh Tùng theo Chúa Nguyễn từ Ái Tử (Quảng Trị) vào Phú Xuân (Huế), có vợ là Nguyễn Thị Dương rồi sinh được 3 con trai, sau đó ông mất tại Phú Xuân, thọ 91 tuổi. Con Phạm Đăng Khoa là Phạm Đăng Tiên, con trai của Phạm Đăng Tiên là Phạm Đăng Dinh, con trai thứ của Phạm Đăng Dinh là Phạm Đăng Long, con trai thứ của Phạm Đăng Long là Phạm Đăng Hưng. Phạm Đăng Hưng có vợ là Phạm Thị Dụ sinh được 2 người con trai và 1 người con gái là Phạm Thị Hàng, sau trở thành Chương Hoàng Hậu là vợ của Vua Thiệu Trị, mẹ của Vua Tự Đức, đây còn là một hiền phụ nổi tiếng Việt Nam thời đó. Hầu hết, những người con của họ Phạm đều là những nhà nho học và giữ chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn.

Quang cảnh bên trong Lăng Hoàng Gia
Trong hợp thể kiến trúc tại Lăng Hoàng Gia còn có một kiến trúc quan trọng nữa là ngôi từ đường của dòng họ Phạm Đăng. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826 gồm: một nhà thờ, nhà khách, nhà kho cùng các công trình phụ đều được làm bằng gỗ quý và trang trí đẹp.
Có thể nói đây là một quần thể kiến trúc xưa và lạ, bởi đây là nơi yên nghỉ của dòng họ làm quan nhiều đời và là họ ngoại của các ông vua Nguyễn. Du khách đến đây có thể tìm thấy được những di tích của một giai đoạn lịch sử đã qua ẩn hiện đâu đó trong từng phần của khu lăng mộ.
Việt Tuấn
Khu lăng Hoàng Gia là một nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng - một dòng họ nổi tiếng tại Nam Bộ vào các thế kỷ XVIII và XIX, toạ lạc trên gò Sơn Quy, nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, cách trung tâm thị xã hơn 2 km về phía tây bắc.
Dòng họ Phạm Đăng vào Gò Công có nguồn gốc như sau:
- Cuối thế kỷ XVI, tiến sĩ PHẠM ĐĂNG KHOA từ đất Thanh Hoá, tránh loạn Trịnh Tùng, theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Ái Tử (Quảng Trị), rồi sau đó chuyển vào làng Phú Xuân (Huế), có vợ là Nguyễn Thị Dương, sinh được 3 trai. Ông mất tại Phú Xuân, thọ 91 tuổi, được tặng chức Trung Thuận Đại Phu Thiềm Sự Phủ Thiểu Thiệm Sự.
- Con trai của Phạm Đăng Khoa là PHẠM ĐĂNG TIÊN, rất giỏi về Nho học, giữ chức Huấn đạo Tư Nghĩa, có vợ là Bùi Thị Thâm, sinh được 1 trai và 5 gái. Ông được tặng chức Hàn Lâm Viện Thị Độc Học Sĩ, mất tại làng Tư Cung (tỉnh Quảng Ngãi), thọ 89 tuổi, lập mộ tại đó.
- Con trai Phạm Đăng Tiên là PHẠM ĐĂNG DINH, sinh năm Đinh Dậu (1717), mất năm Tân Mùi (1811), thọ 94 tuổi. Ông học rộng, giỏi về nghề thuốc, tự hiệu là Huyền Thông Đạo Nhân. Khi Ông mất nhà vua truy tặng hàm danh dự Bình Thạnh Bá (tam phẩm của triều đình).
- Con trai thứ của Phạm Đăng Dinh là PHẠM ĐĂNG LONG, sinh năm Canh Tuất (1730), mất năm Mậu Ngọ (1789). Ông theo cha vào Gò Công. Vốn là người thông minh, ham học, Ông mở trường dạy học tại huyện Tân Hòa, phủ Kiến An, nên được gọi là “Kiến Hoà Tiên sinh”. Theo gia phả Ông được tặng chức Tư Thiện Đại Phu Thượng thơ Bộ Lại.
- Con trai thứ ba của Phạm Đăng Long là PHẠM ĐĂNG HƯNG, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Ất Dậu (1825). Năm 1784, Ông thi đỗ Tam trường, được triều đình sơ bổ làm Lễ Sính ở phủ, sau đó được thăng Lại Bộ Tham Tri. Năm 1819 được sung chức Quốc Sử Quán Phó Tổng tài. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được phong Lễ bộ Thượng thư. Năm 1825 được giao phó giữ kinh thành Huế. Mùa hạ năm này thọ bệnh và mất, được truy phong chức Vinh Lộc Đại Phu Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Năm 1849, vua Tự Đức phong Đặc tấn Vinh Lộc Đại Phu Thái Bảo Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ phong Đức Quốc Công.
Khi Ông mất, theo nghi lễ triều đình, linh cữu được đưa về quê hương, an táng tại gò Sơn Quy.
Ông có vợ là bà Phạm Thị Du sinh được hai trai và một gái – cô gái này là Phạm Thị Hằng, sau trở thành Chương Hoàng Hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức, được phong “Từ Dũ Bác Huệ Khương Thọ Thái Thái Hoàng Thái Hậu” mất năm Tân Sửu (1901), thọ 93 tuổi là một bậc hiền phu nổi tiếng Việt Nam thời đó.
Ông Phạm Đăng Hưng còn có ba người vợ kế: Nguyễn Thị Hữu, sinh được 1 gái: Nguyễn Thị Đình, sinh được 2 gái; Trần Thị Hữu, sinh được 2 trai và 1 gái.
Gò Sơn Quy là một giồng cát khá cao, có hình dáng như một con rùa nằm. Thuở xưa gọi là Gò Rùa, sau đổi thành Sơn Quy (núi Rùa), ý nói đây là nơi phát tích bên ngoại vua Tự Đức. “Quy” là một trong tứ linh “Long, Lân, Quy, Phụng”, Sơn Quy sẽ thiêng liêng bền vững như núi.
Khi vào Gò Công, Ông Phạm Đăng Dinh đã chọn đất này để sống, và các đời kế tiếp của dòng họ Phạm Đăng cũng sinh trưởng tại đây. Trong khi các vùng đất khác bị nhiễm mặn thì ở gò Rùa vẫn có mạch nước ngọt, cây cối tốt tươi, đúng như Nguyễn Liên Phong mô tả trong “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện”.
“Nước ngọt trổ điềm lành
Gò Rùa vun đất phước”
Lần lượt những con người nổi tiếng ra đời: Phạm Đăng Long tức “Kiến Hoà tiên sinh”; Phạm Đăng Hưng - Thượng thư Bộ Lễ và là Đức Quốc Công; Phạm Thị Hằng tức Phạm Thị Hằng Nga tiến cung lúc 13 tuổi, làm Vương phi, rồi làm Hoàng hậu, rồi Hoàng Thái Hậu... làm cho gò Sơn Quy ngày càng nổi tiếng.
Mười ba người trong dòng họ Phạm Đăng qua đời được xây lăng mộ tại đây, trong khoảng thời gian 1811 đến đầu thế kỷ XX đó là lăng mộ của:
1. Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, ông nội của Phạm Đăng Hưng.
2. Kiến Hoà tiên sinh Phạm Đăng Long, thân phụ của Phạm Đăng Hưng.
3. Phan Thị Tánh, thân mẫu của Phạm Đăng Hưng.
4. Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
5. Phan Thi Du, phu nhân của Đức Quốc Công.
6. Phạm Đăng Tuấn, con trai đầu của Đức Quốc Công.
7. Hồ Thị Tánh, vợ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
8. Hồ Thị Toán, vợ thứ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
9. Phạm Đăng Hựu, con trai của Phạm Đăng Tuấn, cháu nội Đức Quốc Công.
10. Phạm Đăng Đạt, em ruột Phạm Đăng Hựu.
11. Nguyễn Thị Thu, vợ của Phạm Đăng Đạt, cháu dâu của Đức Quốc Công.
12. Dương Thị Nhiều, vợ của Phạm Đăng Truyền.
13. Phạm Đăng Đệ, em của Phạm Đăng Truyền, cháu nội của Đức Quốc Công.
Các lăng mộ tổ của Đức Quốc Công xây khá đơn giản, ngoài mộ có vòng thành hình chữ nhật, trước và sau có bình phong, đường nét hoa văn đều giản dị, vật liệu chủ yếu bằng ô dước. Các lăng mộ của phu nhân, con trai, con dâu, cháu nội, cháu dâu của Đức Quốc Công được xây dựng sau đó, cầu kỳ và đẹp hơn. Kiến trúc hài hoà, uy nghi. Vật liệu bằng ô dước, đá và gạch, do những người thợ tài hoa tạo tác.
Đặc biệt là lăng mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, ông ngoại của vua Tự Đức - một kiến trúc coi là tâm điểm của quần thể kiến trúc lăng mộ tại gò này. Phần mộ được xây từ năm 1825, ngay sau khi thi hài của ông được chuyển từ Huế vào. Mộ bát giác hình “đỉnh trụ”, mang dáng dấp một chiếc nón quan trong triều, khác biệt với các mộ thông thường ở Nam bộ. Trước mộ có bốn trụ thấp cách đều giữa búp sen và chiếc nón. Bình phong được xây khá cầu kỳ, đường nét rất uyển chuyển, làm cho ngôi mộ trở nên cổ kính và đầy uy lực.
Toạ lạc trên một vùng đất rộng khoảng 2.000m2, với lối kiến trúc hoành tráng, chặt chẽ mà thâm nghiêm; từ thấp lên cao; từ vuông đến bát giác, đến tròn; từ hữu hạn đến vô biên... triết lý về cõi âm dương, sự mất còn của các bậc hiền tài đã được “vật chất hoá” một cách tài tình.
Năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà bia bên phải được xây dựng, lưu giữ tấm bia đá ghi công đức của Phạm Đăng Hưng. Năm 1998, nhà bia thứ hai được xây dựng, đối diện với nhà bia thứ nhất, chứa trong đó tấm bia bằng đá cẩm thạch trắng, cao 2,2 mét rất quý giá, được thực hiện tại Huế năm Tự Đức thứ 11 (1858), do nhà vua muốn được tỏ lòng biết ơn đối với ông ngoại, đã sai Phan Thanh Giản, Thượng thư Bộ Lễ và Trương Quốc Dụng Thượng thư Bộ Hình soạn văn bia nói lên công trạng của Đức Quốc Công. Cuộc hành trình của tấm bia là một câu chuyện buồn nhưng kết thúc có hậu: Năm 1859, khi chở tấm bia từ Huế vào Gò Công, thuyền qua cửa Cần Giờ thì bị thực dân Pháp cướp lấy. Tháng 12 năm 1860, đại úy thủy quân lục chiến Pháp tên là Barbé bị nghĩa quân Trương Định tiêu diệt gần chùa Khải Tường (Sài Gòn), sẵn có tấm bia lớn, quân Pháp đục chữ vào văn bia cũ, rồi dựng trước mộ tên này tại nghĩa địa Tây (Tp. Hồ Chí Minh). Năm 1985, nghĩa địa này bị giải toả để xây dựng công viên, tấm bia được đem về bảo tàng Cách mạng Hồ Chí Minh và chuyển về tỉnh Tiền Giang, đến nơi nó cần đến, sau hơn một thế kỷ lưu lạc.
Trong hợp thể kiến trúc tại khu Lăng Hoàng Gia, có một kiến trúc quan trọng, đó là đền thờ Đức Quốc Công và dòng họ Phạm Đăng, nằm trên con đường đi vào khu lăng mộ. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826, và hoàn thiện dưới thời Tự Đức, gồm một nhà thờ, nhà khách, nhà kho, tàu ngựa cùng các công trình phụ khác như các hồ sen, chậu kiểng... các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ qúy, mái ngói, tường xây, nội thất được trang trí rất đẹp.
Vào từ đường, chúng ta sẽ thấy nơi chính điện thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, bên trái thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long, bên phải thờ Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, căn chót bên trái thờ Mỹ Khánh Tử Phạm Đăng Tiên, ông cố Phạm Đăng Hưng; căn chót bên phải thờ Thiềm Sự phủ Phạm Đăng Khoa, ông sơ của Phạm Đăng Hưng. Ngày xưa, mỗi năm có hai lệ cúng tế do tri huyện Tân Hòa chủ lễ, từ khi Pháp đến, lệ nay không còn nữa.
Sự hiện diện của quân đội Pháp từ năm 1861 khiến khu Lăng Hoàng Gia bị đe doạ. Dù 3 tỉnh miền Đông bị mất, vua Tự Đức vẫn khẩn khoản xin người Pháp 100 mẫu đất dành cho các ngôi mộ của gia đình họ Phạm qua hoà ước Nhâm Tuất 1862. Nhờ thế khu vực này từng có lần được Trương Định làm tổng hành dinh và các ngôi mộ cũng không bị địch phá hủy. Tuy nhiên do các cuộc chiến tranh kéo dài và thiếu người chăm sóc, khu Lăng Hoàng Gia bị xuống cấp nhanh chóng.
Năm 1998, ngôi nhà thờ được đại trùng tu và đến năm 2005-2006 tiếp tục trùng tu, tôn tạo nội thất, ngoại thất và xây cổng tường rào phần nào trả lại những giá trị kiến trúc đặc biệt dành cho Hoàng tộc tại xứ Gò nổi tiếng.
Di tích Lăng Hoàng Gia được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào năm 1992, theo Quyết định số 3211.
Một quần thể kiến trúc khá xa xưa và khác lạ, bởi đây là nơi yên nghỉ của dòng họ làm quan nhiều đời, họ ngoại của các ông vua Nguyễn. Các kiến trúc ấy như mang tâm trạng vừa bi quan vừa mãn nguyện, du khách đến đây có thể tìm thấy những tâm trạng khác, khi mà một giai đoạn lịch sử phức tạp đã qua đang ẩn hiện đâu đó trong từng phần của di tích.
Trích “Các Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia tại Tiền Giang”

Bản đồ khu mộ Gia Tộc Phạm Đăng sau Lăng Hoàng Gia được cập nhật 12.2010 bởi anh Phan Anh Tuấn Đọc thêm!
Khu lăng Hoàng Gia là một nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng - một dòng họ nổi tiếng tại Nam Bộ vào các thế kỷ XVIII và XIX, toạ lạc trên gò Sơn Quy, nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, cách trung tâm thị xã hơn 2 km về phía tây bắc.
Dòng họ Phạm Đăng vào Gò Công có nguồn gốc như sau:
- Cuối thế kỷ XVI, tiến sĩ PHẠM ĐĂNG KHOA từ đất Thanh Hoá, tránh loạn Trịnh Tùng, theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Ái Tử (Quảng Trị), rồi sau đó chuyển vào làng Phú Xuân (Huế), có vợ là Nguyễn Thị Dương, sinh được 3 trai. Ông mất tại Phú Xuân, thọ 91 tuổi, được tặng chức Trung Thuận Đại Phu Thiềm Sự Phủ Thiểu Thiệm Sự.
- Con trai của Phạm Đăng Khoa là PHẠM ĐĂNG TIÊN, rất giỏi về Nho học, giữ chức Huấn đạo Tư Nghĩa, có vợ là Bùi Thị Thâm, sinh được 1 trai và 5 gái. Ông được tặng chức Hàn Lâm Viện Thị Độc Học Sĩ, mất tại làng Tư Cung (tỉnh Quảng Ngãi), thọ 89 tuổi, lập mộ tại đó.
- Con trai Phạm Đăng Tiên là PHẠM ĐĂNG DINH, sinh năm Đinh Dậu (1717), mất năm Tân Mùi (1811), thọ 94 tuổi. Ông học rộng, giỏi về nghề thuốc, tự hiệu là Huyền Thông Đạo Nhân. Khi Ông mất nhà vua truy tặng hàm danh dự Bình Thạnh Bá (tam phẩm của triều đình).
- Con trai thứ của Phạm Đăng Dinh là PHẠM ĐĂNG LONG, sinh năm Canh Tuất (1730), mất năm Mậu Ngọ (1789). Ông theo cha vào Gò Công. Vốn là người thông minh, ham học, Ông mở trường dạy học tại huyện Tân Hòa, phủ Kiến An, nên được gọi là “Kiến Hoà Tiên sinh”. Theo gia phả Ông được tặng chức Tư Thiện Đại Phu Thượng thơ Bộ Lại.
- Con trai thứ ba của Phạm Đăng Long là PHẠM ĐĂNG HƯNG, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Ất Dậu (1825). Năm 1784, Ông thi đỗ Tam trường, được triều đình sơ bổ làm Lễ Sính ở phủ, sau đó được thăng Lại Bộ Tham Tri. Năm 1819 được sung chức Quốc Sử Quán Phó Tổng tài. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được phong Lễ bộ Thượng thư. Năm 1825 được giao phó giữ kinh thành Huế. Mùa hạ năm này thọ bệnh và mất, được truy phong chức Vinh Lộc Đại Phu Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Năm 1849, vua Tự Đức phong Đặc tấn Vinh Lộc Đại Phu Thái Bảo Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ phong Đức Quốc Công.
Khi Ông mất, theo nghi lễ triều đình, linh cữu được đưa về quê hương, an táng tại gò Sơn Quy.
Ông có vợ là bà Phạm Thị Du sinh được hai trai và một gái – cô gái này là Phạm Thị Hằng, sau trở thành Chương Hoàng Hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức, được phong “Từ Dũ Bác Huệ Khương Thọ Thái Thái Hoàng Thái Hậu” mất năm Tân Sửu (1901), thọ 93 tuổi là một bậc hiền phu nổi tiếng Việt Nam thời đó.
Ông Phạm Đăng Hưng còn có ba người vợ kế: Nguyễn Thị Hữu, sinh được 1 gái: Nguyễn Thị Đình, sinh được 2 gái; Trần Thị Hữu, sinh được 2 trai và 1 gái.
Gò Sơn Quy là một giồng cát khá cao, có hình dáng như một con rùa nằm. Thuở xưa gọi là Gò Rùa, sau đổi thành Sơn Quy (núi Rùa), ý nói đây là nơi phát tích bên ngoại vua Tự Đức. “Quy” là một trong tứ linh “Long, Lân, Quy, Phụng”, Sơn Quy sẽ thiêng liêng bền vững như núi.
Khi vào Gò Công, Ông Phạm Đăng Dinh đã chọn đất này để sống, và các đời kế tiếp của dòng họ Phạm Đăng cũng sinh trưởng tại đây. Trong khi các vùng đất khác bị nhiễm mặn thì ở gò Rùa vẫn có mạch nước ngọt, cây cối tốt tươi, đúng như Nguyễn Liên Phong mô tả trong “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện”.
“Nước ngọt trổ điềm lành
Gò Rùa vun đất phước”
Lần lượt những con người nổi tiếng ra đời: Phạm Đăng Long tức “Kiến Hoà tiên sinh”; Phạm Đăng Hưng - Thượng thư Bộ Lễ và là Đức Quốc Công; Phạm Thị Hằng tức Phạm Thị Hằng Nga tiến cung lúc 13 tuổi, làm Vương phi, rồi làm Hoàng hậu, rồi Hoàng Thái Hậu... làm cho gò Sơn Quy ngày càng nổi tiếng.
Mười ba người trong dòng họ Phạm Đăng qua đời được xây lăng mộ tại đây, trong khoảng thời gian 1811 đến đầu thế kỷ XX đó là lăng mộ của:
1. Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, ông nội của Phạm Đăng Hưng.
2. Kiến Hoà tiên sinh Phạm Đăng Long, thân phụ của Phạm Đăng Hưng.
3. Phan Thị Tánh, thân mẫu của Phạm Đăng Hưng.
4. Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
5. Phan Thi Du, phu nhân của Đức Quốc Công.
6. Phạm Đăng Tuấn, con trai đầu của Đức Quốc Công.
7. Hồ Thị Tánh, vợ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
8. Hồ Thị Toán, vợ thứ của Phạm Đăng Tuấn, con dâu của Đức Quốc Công.
9. Phạm Đăng Hựu, con trai của Phạm Đăng Tuấn, cháu nội Đức Quốc Công.
10. Phạm Đăng Đạt, em ruột Phạm Đăng Hựu.
11. Nguyễn Thị Thu, vợ của Phạm Đăng Đạt, cháu dâu của Đức Quốc Công.
12. Dương Thị Nhiều, vợ của Phạm Đăng Truyền.
13. Phạm Đăng Đệ, em của Phạm Đăng Truyền, cháu nội của Đức Quốc Công.
Các lăng mộ tổ của Đức Quốc Công xây khá đơn giản, ngoài mộ có vòng thành hình chữ nhật, trước và sau có bình phong, đường nét hoa văn đều giản dị, vật liệu chủ yếu bằng ô dước. Các lăng mộ của phu nhân, con trai, con dâu, cháu nội, cháu dâu của Đức Quốc Công được xây dựng sau đó, cầu kỳ và đẹp hơn. Kiến trúc hài hoà, uy nghi. Vật liệu bằng ô dước, đá và gạch, do những người thợ tài hoa tạo tác.
Đặc biệt là lăng mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, ông ngoại của vua Tự Đức - một kiến trúc coi là tâm điểm của quần thể kiến trúc lăng mộ tại gò này. Phần mộ được xây từ năm 1825, ngay sau khi thi hài của ông được chuyển từ Huế vào. Mộ bát giác hình “đỉnh trụ”, mang dáng dấp một chiếc nón quan trong triều, khác biệt với các mộ thông thường ở Nam bộ. Trước mộ có bốn trụ thấp cách đều giữa búp sen và chiếc nón. Bình phong được xây khá cầu kỳ, đường nét rất uyển chuyển, làm cho ngôi mộ trở nên cổ kính và đầy uy lực.
Toạ lạc trên một vùng đất rộng khoảng 2.000m2, với lối kiến trúc hoành tráng, chặt chẽ mà thâm nghiêm; từ thấp lên cao; từ vuông đến bát giác, đến tròn; từ hữu hạn đến vô biên... triết lý về cõi âm dương, sự mất còn của các bậc hiền tài đã được “vật chất hoá” một cách tài tình.
Năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà bia bên phải được xây dựng, lưu giữ tấm bia đá ghi công đức của Phạm Đăng Hưng. Năm 1998, nhà bia thứ hai được xây dựng, đối diện với nhà bia thứ nhất, chứa trong đó tấm bia bằng đá cẩm thạch trắng, cao 2,2 mét rất quý giá, được thực hiện tại Huế năm Tự Đức thứ 11 (1858), do nhà vua muốn được tỏ lòng biết ơn đối với ông ngoại, đã sai Phan Thanh Giản, Thượng thư Bộ Lễ và Trương Quốc Dụng Thượng thư Bộ Hình soạn văn bia nói lên công trạng của Đức Quốc Công. Cuộc hành trình của tấm bia là một câu chuyện buồn nhưng kết thúc có hậu: Năm 1859, khi chở tấm bia từ Huế vào Gò Công, thuyền qua cửa Cần Giờ thì bị thực dân Pháp cướp lấy. Tháng 12 năm 1860, đại úy thủy quân lục chiến Pháp tên là Barbé bị nghĩa quân Trương Định tiêu diệt gần chùa Khải Tường (Sài Gòn), sẵn có tấm bia lớn, quân Pháp đục chữ vào văn bia cũ, rồi dựng trước mộ tên này tại nghĩa địa Tây (Tp. Hồ Chí Minh). Năm 1985, nghĩa địa này bị giải toả để xây dựng công viên, tấm bia được đem về bảo tàng Cách mạng Hồ Chí Minh và chuyển về tỉnh Tiền Giang, đến nơi nó cần đến, sau hơn một thế kỷ lưu lạc.
Trong hợp thể kiến trúc tại khu Lăng Hoàng Gia, có một kiến trúc quan trọng, đó là đền thờ Đức Quốc Công và dòng họ Phạm Đăng, nằm trên con đường đi vào khu lăng mộ. Ngôi từ đường này được xây dựng năm 1826, và hoàn thiện dưới thời Tự Đức, gồm một nhà thờ, nhà khách, nhà kho, tàu ngựa cùng các công trình phụ khác như các hồ sen, chậu kiểng... các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ qúy, mái ngói, tường xây, nội thất được trang trí rất đẹp.
Vào từ đường, chúng ta sẽ thấy nơi chính điện thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, bên trái thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long, bên phải thờ Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Dinh, căn chót bên trái thờ Mỹ Khánh Tử Phạm Đăng Tiên, ông cố Phạm Đăng Hưng; căn chót bên phải thờ Thiềm Sự phủ Phạm Đăng Khoa, ông sơ của Phạm Đăng Hưng. Ngày xưa, mỗi năm có hai lệ cúng tế do tri huyện Tân Hòa chủ lễ, từ khi Pháp đến, lệ nay không còn nữa.
Sự hiện diện của quân đội Pháp từ năm 1861 khiến khu Lăng Hoàng Gia bị đe doạ. Dù 3 tỉnh miền Đông bị mất, vua Tự Đức vẫn khẩn khoản xin người Pháp 100 mẫu đất dành cho các ngôi mộ của gia đình họ Phạm qua hoà ước Nhâm Tuất 1862. Nhờ thế khu vực này từng có lần được Trương Định làm tổng hành dinh và các ngôi mộ cũng không bị địch phá hủy. Tuy nhiên do các cuộc chiến tranh kéo dài và thiếu người chăm sóc, khu Lăng Hoàng Gia bị xuống cấp nhanh chóng.
Năm 1998, ngôi nhà thờ được đại trùng tu và đến năm 2005-2006 tiếp tục trùng tu, tôn tạo nội thất, ngoại thất và xây cổng tường rào phần nào trả lại những giá trị kiến trúc đặc biệt dành cho Hoàng tộc tại xứ Gò nổi tiếng.
Di tích Lăng Hoàng Gia được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào năm 1992, theo Quyết định số 3211.
Một quần thể kiến trúc khá xa xưa và khác lạ, bởi đây là nơi yên nghỉ của dòng họ làm quan nhiều đời, họ ngoại của các ông vua Nguyễn. Các kiến trúc ấy như mang tâm trạng vừa bi quan vừa mãn nguyện, du khách đến đây có thể tìm thấy những tâm trạng khác, khi mà một giai đoạn lịch sử phức tạp đã qua đang ẩn hiện đâu đó trong từng phần của di tích.
Trích “Các Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia tại Tiền Giang”

Bản đồ khu mộ Gia Tộc Phạm Đăng sau Lăng Hoàng Gia được cập nhật 12.2010 bởi anh Phan Anh Tuấn Đọc thêm!
























.bmp)




