VĂN HÓA GIÁO DỤC GÒ CÔNG
THỜI MỞ CỎI
PHAN THANH SẮC
I. NHẤT LÃM VĂN HÓA GIÁO DỤC Ở NAM BỘ
TRONG ĐÓ GÒ CÔNG THỜI MỞ CỎI
Gò Công, cũng như các miền khác của Nam Bộ, từ thế kỹ thứ 17, là chặng đường cuối của cuộc Nam Tiến thần kỳ của dân tộc ta. Lưu dân gốc đàng ngoài đã bắt đầu ở lại. Chỗ trù phú đông đúc lập thành thị buôn bán tấp nập, nơi trồng trọt được quần cư lập thôn lập xóm. Nét văn hoá nòi Việt, lưu dân mang theo.
Thuở ban đầu, chắc chắn không có bậc trí thức cao khoa hay học thức rộng, nhưng cũng có nhiều người có học dở dang không tiến thân được ở đàng ngoài, tìm vào đất hứa, mong lập nghiệp.
Chính những người nầy, là những người sẽ tạo hình một nền văn hoá đặc thù cho Nam Bộ khi họ tiếp xúc được với các vong thần Minh Triều Hoa Hạ.
Các quan lại Hán tộc nầy dẫn các thuộc hạ sang xin Chúa Nguyễn cho vào Miền Nam, khai thác xứ sở vốn còn hoang vu, ít người Thuỷ Chân Lạp bản xứ ở nầy.
Đó là bắt đầu từ năm 1679. Họ tỵ nạn với con số 3000 người. Tổng Binh Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến cùng thuộc hạ định cư ở Mỹ Tho. Tổng Binh Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần Anh Bình và thuộc hạ khai thác miền Bàn Lân, vùng Biên Hoà Gia Định sau nầy. Chính những người Trung Hoa nầy, góp phần rất lớn, đem nền văn hoá Minh Triều, đỉnh cao của văn hoá Phương Đông mà nước Việt ta, từ đàng trong đến đàng ngoài, đều chia sẻ và góp nét đặc thù, cũng được coi như là thành viên của nền văn hoá nhiều nghìn năm nầy.
Họ đến hai nơi của miền Nam, chúa Nguyễn giới thiệu với Chân lạp. Chân Lạp dung cho họ ở chung với một số người Việt đến trước đó. Họ sẽ khai thác miền Đông Thuỷ Chân Lạp thành hai đô hội, Biên Hoà và Mỹ Tho. Ta cũng không quên Mạc Cửu cũng là một tôi thần nhà Minh trốn chạy Thanh triều sang khai thác miền Tây Nam Thủy Chân Lạp cùng thời với các tướng ở trên rồi dâng đất thuộc Hà Tiên cho Chúa Nguyễn năm 1708, được Chúa Nguyển phong tước Tổng Binh truyền đời đất ấy.
Thế là Nam Bộ có ba vùng tập trung và truyền bá văn hoá Trung Hoa, trộn lẫn văn hoá bản địa. Số cư dân Việt biết chữ dù chút ít, đều có thể giao thiệp với họ bằng văn tự. Những nước đồng văn thật có lợi khi giao tiếp nhau. Nói nhau thì không hiểu nhưng dùng bút mạn đàm thì được. Dần dần, người chủ, cư dân Việt, người khách thuộc Minh hương hiểu nhau, ít mâu thuẩn nhờ văn tự.
II. HÒA ĐỒNG VĂN HÓA VIỆT HÁN
Văn hoá tương đồng dễ chấp nhận nhau. Còn văn tự thì thật là một phương tiện tuyệt vời giao tiếp của hai dân dị tộc. Người Tàu trương bảng hiệu buôn bán, ta đọc được. Thấy trên bảng hiệu có chữ “Đường” cuối, là ta biết ngay là nhà thuốc Bắc, như “Phước An Đường”. Thấy chữ “Hàng” cuối là ta biết đó là tiệm buôn, như “Hội Nguyên Hàng”. Thấy chữ “Học hiệu” biết là trường Tàu, như “Bồi Nguyên Học hiệu”. Tức nhiên là họ viết bằng chữ Tàu, ta gọi chung là chữ Hán, đọc theo giọng ta là chữ Nho …
Đồng văn, nên người Tàu giúp rất nhiều cho việc truyền bá Nho học cho xứ Nam Kỳ xa xôi với các nôi văn hoá của nòi Việt. Ngoài việc họ trực tiếp hay gián tiếp đào tạo hay giúp các người Việt, ban đầu biết chút ít chữ nghĩa, giỏi dần lên, thu thập văn hoá Tàu theo cách Việt. Sách vở từ liệt thư, tiểu thuyết cổ điển, cả sách cổ xuý canh tân của Tàu, đều đến được miền có người Tàu sinh sống. Họ vẫn liên lạc với xứ sở cũ bên Tàu, do thuyền bè đi lại thông thương. Rồi, từ họ các nhà nho ta cũng có sách vở Tàu mà nghiên cứu. Chỉ có sách thuốc là sách quý, họ ít giao cho người Việt. Thế nhưng ta cũng có cách lấy. Cách “thần sầu”, ta đã thực hiện để mở hai chặng đường Nam Tiến. Cách gả “Huyền Trân Công Chúa” đời Trần cho vua Chiêm và cách gả “Ngọc Vạn Công Nương” cho vua Chân Lạp, thời Chúa Nguyễn. Người Tàu ban đầu ở Nam Kỳ rồi cũng có hôn nhân với người Việt. Thường thì chỉ “chồng Tàu vợ Việt”, vài đời thì ông thầy thuốc giỏi người Tàu đã là ba phần mẹ Việt rồi. Thế là sách thuốc Tàu “quí”, người Việt cũng có được. Chuyện xưa Trọng Thuỷ Mỵ Châu, người Nam bộ áp dụng ngược lại một cách hiệu quả. Chàng Trọng Thuỷ Tàu không gạt được nàng Mỵ Châu “trái tim lầm lở để trên đầu” được nũa, mà gạt để làm gì khi mà đất “tạm dung” đã trở thành bản địa. Văn minh văn hoá mang theo, người Tàu không khu biệt dấu diếm, mà trải nhập hoà đồng với văn hoá bản xứ khá thuận lợi. Người biết chữ dở dang ở miền Nam, do tiếp xúc nhiều nguồn nầy mà giỏi chữ nghĩa hơn. Không học ở trường với các danh nho khoa nghiệp miền ngoài mà cũng có nhiều người do tiếp thu đa nguồn, tìm tòi nghiên cứu sách vở, không còn hiếm hoi nữa, để trở thành những bậc danh nho làm rở mặt cho miền mới vừa thoát vòng hoang vu, u địa nầy.
III. KHAI SÁNG NỀN HỌC THUẬT PHƯƠNG NAM
Trở lại, lúc ban đầu mở cỏi miền Nam, đa số lưu dân là những người ít chữ nghĩa nhưng hiếu học. Cũng nhờ hai trung tâm Đồng Nai - Mỹ Tho và Hà Tiên vun bồi nền văn hoá Trung Hoa đồng văn và tiếp nối giao lưu đàng ngoài mà con em của lưu dân ở lại nầy, tuy ít nhưng có người mài mò tự nghiên cứu sách vở, nổi bật lên, sáng lên như các vì sao sáng ở bầu trời ít sao của phương Nam.
Người đầu tiên không đỗ đạt khoa cử nhưng được biết đến như là bậc thầy tôn kính. Cụ Võ Trường Toản, thời giành giật giữa Tây Sơn Nguyễn Lữ và Chúa Nguyễn Phước Ánh, là người khai đường mở lối cho bao bậc sĩ phu miền Nam. Cụ ẩn náo tại Bình Dương (cũ) nghiên cứu sách vở và mở trường dạy học. Nhiều môn đệ của cụ đều đỗ đạt cao, làm quan có phẩm chất. Như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định là những người chủ trương “Bình Dương thi xã”[1] và được xưng tụng là “Gia Định tam gia thi”. Cùng “Chiêu Anh Các” ở Hà Tiên, Bình Dương thi xã có những thi sĩ dù chưa xứng bậc thi hào nhưng cũng khiến các nhà nho khoa bảng miền ngoài nể phục. Riêng người học trò xuất sắc nữa của cụ Võ là Ngô Tùng Châu vị thủ khoa của miền Gò Công xuất thân mà cuộc đời quá lẩm liệt, sẽ được nhắc nhở ở đoạn sau viết về khai sáng miền Khổng Tước Nguyên qua các thời kỳ….
IV. THƯ HƯƠNG GÒ CÔNG
Sách Địa Chí Văn hoá TP HCM, xuất bản những năm vừa đây ở phần Lịch sử Gia Định xưa cũng ghi :
Ông Ngô Tùng Châu với văn tài xuất chúng được toàn miền Nam thời đó nể phục chỉ sau thầy mình là cụ Võ Trường Toản.
Gò Công từ năm 1852 là Huyện Tân Hòa thuộc Phủ Tân An Tỉnh Gia Định,.TP HCM nhận truyền thống Gia Định xưa là truyền thống của TP nên ông Ngô Tùng Châu là nhân tài kiệt xuất của Gò Công nên coi là thuộc Gia Định vậy!
Ông Ngô Tùng Châu, gốc Ninh Hoà, Bình Thuận cũ, vào cư trú tại An Long Thôn, Kiến Hoà Huyện, Trấn Định Dinh. Sau nầy Thôn An Long từ 1864 thời Pháp gọi trại là Yên Luông rồi tách ra thành làng Yên Luông Đông và Yên Luông Tây. Còn Huyện Kiến Hoà từ lúc mở cỏi 1756 gồm toàn bộ Bãi Khổng Tước tức Gò Công thêm Chợ Gạo thêm Cù Lao Bảo của Bến Tre ngày nay. Còn Dinh Trấn Định rộng lớn gồm Định Tường, Long An, Vĩnh Long và Bến Tre sau nầy.
Trở lại sau khi vào đến Thôn An Long Ngô Tùng Châu lại tìm lên Bình Dương thọ giáo với cụ Võ Trường Toản, thành môn đồ xuất sắc của cụ Võ cùng với Gia Định Tam gia thi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định đã biết ở trên. Lúc đó Gia Định Đồng Nai, nói chung là Nam Kỳ, mới lập, thời cuộc nhiểu nhương, Tây Sơn đã nổi và vào Nam Kỳ truy đuổi chúa Nguyễn từ năm 1776, Ngô Tùng Châu về dạy học tại quê mới, mong đem sở học mở mang dân trí bổn địa. Nơi dạy học, vì sau ông đậu Thủ Khoa, nên gọi là Xóm Thủ, thuộc Yên Luông, Gò Công. Lúc nầy, có người hào kiệt trẻ tuổi Võ Tánh khởi nghiệp tại Gò Tre, từ 1783, Ngô Tùng Châu đến giúp cơ mưu, nhưng rảnh việc quân là về An Long dạy học và cũng chính nhờ có ông và các sĩ phu khác, phân tích cho Võ Tánh thế cuộc không thể cát cứ một phương như chí ban đầu của Võ, mà nên hợp tác với Chúa Nguyễn Ánh, người mà dân Nam Bộ xem như là đại diện giòng họ đã mở cỏi miền Nam. Võ Tánh nghe phải và năm 1788, kéo đạo quân Kiến Hoà miền Khổng Tước, truy đuổi tướng mạnh của Tây Sơn là Thái bảo Phạm văn Tham, bức hàng bức tử tướng nầy. Sau đó giúp chúa Nguyễn, lập công nhiều, đem toàn miền Nam về cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn về Gia Định lên ngôi vương, cũng năm 1788 đó. Ngô Tùng Châu rất được Nguyễn Vương phục tài nể trọng, lúc nầy Ngô chưa đỗ đạt nên Vương cho làm một viên quan văn (Hàn lâm chế cáo), vừa đảm trách công việc đốc sức dân làm ruộng (Điền Tuấn
------------------------------------------------------------------
[1] Thật ra tên gọi chính thức của BÌnh Dương thi xã là “Sơn Hội Gia Định”, theo như chính Trịnh Hoài Đức viết trong bài Tự đề tựa Cẩn Trai thi tập. Tên gọi “Bình Dương thi xã” chỉ mới xuất hiện vào thời gian 1937 – 1944, trong quá trình nghiên cứu về Sơn Hội của một số trí thức ở Sài Gòn mà thôi. (Cao Tự Thanh trong “mấy ý kiến trao đổi lại về bài “Bình Dương Thi xã” – Tập chí Văn TPHCM số 21, tháng 8 – 1992)
V. HAI KỲ ƯU KHOA, NGƯỜI GÒ CÔNG ĐỖ ĐẠT
Đồng thời, sau khi củng cố quyền bính ở Gia Định, Nguyễn vương muốn có người khoa bảng phục vụ chế độ, nên tổ chức lần lượt hai khoa thi Tân Hợi 1791 và khoa thi Bính Thìn 1796 tại Gia Định. Đây là hai khoa thi đầu tiên của miền Nam bộ mở cỏi, nhằm lấy người đỗ hạng Ưu để bổ làm Nho học Huấn đạo phủ lễ sinh và người đỗ hạng Thứ được gọi là Nhiêu học để tuỳ việc phân bổ phục vụ việc hàn lâm. Người thủ khoa của những người đỗ ưu khoa Tân Hợi đầu tiên nầy là Ngô Tùng Châu học trò suất sắc của “Sùng Đức Tiên sinh” Võ Trường Toản. Thêm người đỗ hạng Ưu cùng khoa Tân Hợi 1791 cũng là người Gò Công, cũng là vị mưu sĩ của đạo quân Kiến Hòa của Võ Tánh là Nguyễn Hoài Quỳnh học trò giỏi của “Kiến Hòa Tiên sinh” Phạm Đăng Long mở trường dạy tại Thôn Tân Niên Đông, Huyện Kiến Hòa.
Ngô Tùng Châu sau khi đỗ Thủ khoa được thăng Lễ bộ và được chọn làm thầy dạy Đông cung Nguyễn Phước Cảnh, cùng với Giám mục Bá Đa Lộc, Pigneau de Béhaine. Đây là công việc rất khó khăn và tế nhị, song Ngô Tùng Châu đã khéo léo vượt qua và với “sự học hành thuần chánh”, Ngô Tùng Châu hết lòng can răn, khiến Đông cung Cảnh nể trọng lắm. Sử sách đều đồng ý, Ngô Tùng Châu là tay văn học kiệt xuất, học trò giỏi nhất của Võ Trường Toản và ghi thêm là nhà giáo lớn ở Nam Bộ hồi nửa sau thế kỷ thứ 18.
Sau nầy, sự nghiệp của ông Ngô gắn chặt với ông Võ Tánh giữ thành Bình Định từ năm 1799 đến 1801; người uống thuốc độc, người ung dung nhìn ngọn lửa bừng lên, đều rạng tấm lòng son. Hơn hai trăm năm qua mà tấm can trường của hai người, dân Gò Công mãi nhớ, trong các đình làng, bài vị hai người được thờ, trong cúng tế, tước vị phong Thần của hai người được xưng tụng.
Nguyễn Hoài Quỳnh là học trò của Phạm Đăng Long, trước khi dự thi ưu khoa từng theo Võ Tánh lập đạo quân Kiến Hòa và theo Đạo quân nầy giữ thành Bình Định. Trốn thoát sau khi thành Bình Định thất thủ năm 1801, ông làm quan cho triều Nguyễn từng giữ tới chức Tả Tham tri bộ Hình kiêm lãnh Hình tào Bắc Thành.
Kiến Hòa Tiên sinh Phạm Đăng Long từng có nhiều học trò tuy không không khoa bảng nhưng theo đạo quân Kiến Hòa cho tới khi thất thủ thành Bình Định, sống sót làm quan danh tiếng một thời như:
Nguyễn Văn Hiếu từng giữ chức Đê chính Bắc thành, Trấn thủ Nghệ An, Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình. Ông là “người khiêm tốn hòa nhã, trị dân có chính tích tốt”. Trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng thời Pháp có bài “Ông quan liêm chính” nói về ông nguyễn Văn Hiếu, gốc người Gò Công đó.
Mạc Văn Tô cũng thuộc đạo quân Kiến Hòa, giữ các chức Lưu thủ Trấn Biên, Hữu quân phó tướng, Khâm sai Chưởng cơ, chỉ huy quân biên phòng ở mạn Quang Hóa (Tây Ninh).
Người thứ ba ở Gò Công, đỗ Ưu khoa Bính Thìn 1796[1] là Phạm Đăng Hưng, con và học trò của Kiến Hoà Tiên sinh Phạm Đăng Long. Ông Phạm Đăng Hưng sau nầy hoạn lộ hanh thông làm tới chức Lễ bộ Thương thư triều vua Gia Long và Minh Mạng. Điều may mắn là ông sanh được một gái út Phạm Thị Hằng, sau làm bà Hoàng đức hạnh, làm rạng rở miền “Đất lành” nầy. Đó là Đức Thái Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Vì có Đức Bà Từ Dũ mới có khu “Lăng Hoàng Gia” chôn các tổ phụ nơi quê hương bà.
Lăng Hoàng Gia xưa thuộc thôn Tân Niên Đông Huyện Tân Hòa nay là xã Long Hưng Thị xã Gò Công, đã vào chính sử do Hoà ước năm 1862 nhường Pháp ba tỉnh miền Đông có một biệt khoản yêu cầu Pháp phải giữ gìn và nhất là trong cuộc Kháng chiến chống Pháp đầu tiên (1862 – 1864) đây là Tổng hành dinh của Nghĩa quân Trương Công Định.
----------------------------------------------------------------
[1] Tac giả Huỳnh Minh trong “Gò Công xưa và nay” ghi: Ông Phạm Đăng Hưng thi đỗ Tam Trường (Tú Tài) khoa thi hương năm Bính Thìn 1784, nhầm lẫn hai điểm : Thứ nhứt Bính Thìn là năm 1796, còn năm 1784 là năm Giáp Thìn. Lại nữa năm 1784 là năm Chúa Nguyễn bị Tây Sơn đánh tan tác. Tây Sơn Nguyễn Huệ vào Nam cuối năm 1784 để đầu năm 1785 phá tan quân Xiêm ở Rạch Gầm Định Tường, ổn định ở đâu mà Chúa Nguyễn hay Tây Sơn Nguyễn Lữ đóng ở Gia Định tổ chức khoa thi. Cái lầm nầy bây giờ ai viết về ông Phạm Đăng Hưng đều viết ông đậu năm Bính Thìn 1784 cả. Cái lầm thứ hai, đã không có thi Hương thì làm gì có “Tam Trường” là Tú Tài. Xác nhận ông Phạm Đăng Hưng đậu kỳ thi Ưu khoa thứ nhì năm Bính Thìn 1796. Ưu khoa tương đương Hương khoa sau nầy và người đậu ưu tương đương “Cử nhân” Hương khoa. Vì ai cũng biết năm 1788 Chúa Nguyễn mới chiếm lại trọn vẹn miền Gia Định, chúa mới tổ chức được 2 khoa thi 1791 và 1796 như trên. Vã lại nếu ông Phạm Đăng Hưng đậu có Tú Tài mà làm quan tới Lễ Bộ Thượng Thư. Được à? Nên nhớ ông là Lễ Bộ Thượng Thư trước khi con gái ông là Bà Phạm Thị Hằng nhập cung năm 1824 để sau thành Đức Bà Từ Dũ. Xin tôn trọng người xưa và nên biết “Sử” mà tránh ghi cái sai của người viết trước!
|
VI. CÁC KHOA THI HƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
Qua thế kỷ thứ 19, sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long có ý định chấn hưng nền học thuật ở phía Nam, là đất dựng nghiệp của vua nhưng chưa phát triển ngang bằng hai miền Trung Bắc. Tuy nhiên vì mới khai sinh, triều đại đa đoan công việc, việc mở mang giáo dục miền Nam của vua không được như mong muốn. Triều Gia Long dài 20 năm, chỉ mở hai khoa thi Hương đầu tiên tại Gia Định cho toàn bộ Nam kỳ.
Khoa Quí Dậu 1813 lấy 8 cử nhân. Đó là 8 vị Cử nhân đầu tiên của Nam Kỳ.
Đến khoa Kỹ Mão 1919, lấy 12 cử nhân.
Hết triều vua Gia Long toàn miền Nam mới có 20 cử nhân. Các Huyện lân cận của Gò Công thuộc Kiến Hoà có 2 vị là Nguyễn Tấn Bá, cử nhân thứ 7 khoa 1813, người thôn An Bình huyện Kiến Đăng (Cai Lậy) và Đặng văn Mô, cử nhân thứ 3 khoa 1819 người thôn Thanh Hưng, huyện Kiến Đăng.
Vùng Gò Công tới đây chưa có cử nhân nào.
Sang triều vua Minh Mạng, mọi mặt ổn định, việc giáo dục các miền được quan tâm, và phát triển vững chắc. Song hành với việc chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh (1832), các trường học cấp tỉnh, phủ, huyện được thành lập, đóng vai trò tích cực trong việc giáo hoá nhân dân. Triều đình lưu ý đến thanh niên thiếu niên, khuyến học thiết thực, đặt ra ngạch “học sinh” ở trường tỉnh, cho hưởng qui chế đặc biệt, cấp học bổng cho những “học sinh” có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng hiếu học. Còn ngạch “học sinh” thì như sau nầy có ông Nguyễn văn Lạc người làng Mỹ Chánh (bây giờ ở Mỹ Tho) được hưởng ngạch nầy, nên bây giờ ta biết đã từng có nhà thơ trào phúng Học Lạc có chỗ ngồi trong Văn học miền Nam thưở giao thời Pháp Việt.
Song song với việc lập trường, nhà Nguyễn đặt ra các chức Học quan. Ở trường Tỉnh có Đốc học, ở trường Phủ có Giáo thọ, ở trường phân Phủ hay Huyện có Huấn đạo, ở các Tổng có Tổng giáo. Nhiệm vụ của các vị Học quan nầy là “trông nôm việc dạy học và khảo hạch học trò” trong vùng trách nhiệm của mình. Lương của các vị học quan nầy tuỳ theo từng cấp mà được một phần tiền và gạo. Học quan thấp có lương mỗi tháng là một quan tiền và và một vuông (phương) gạo lối 30kg. Thời đó tiêu chuẩn tuyển lựa, phong đặt các chức học quan rất nghiêm ngặt. Những vị nầy phải “kính cẩn đoan chính, nêu gương mô phạm để dạy học trò”. Tức là phải thoả hai tiêu chuẩn đức và tài. Đức là tư tưởng vì dân, vì nước, trung quân ái quốc, hành xử đúng đắn, có phẩm chất cá nhân, hợp với các yêu cầu của nghề dạy học, làm gương cho học trò. Còn tài là phải đỗ đạt khoa cử, phải có trình độ tri thức tương xứng với chức vụ. Có điều là giữa đức và tài thì triều Nguyễn xem đức trọng hơn tài. Các chức học quan do cấp tỉnh tâu đề cử về triều, qua ý kiến của Bộ Lại, vua mới phê duyệt đề cử nầy. Đời Tự Đức có nhiều trường họp, việc đề cử các quan địa phương bị truất vì phẩm hạnh làm chức học quan đều không được chấp thuận.
Riêng Gò Công năm 1831 triều Minh Mạng, được lập làm huyện Tân Hoà, thuộc Định Tường (một trong lục tỉnh Nam Kỳ), không thấy có trường huyện riêng, phải học theo hệ thống giáo dục trường dân của các thầy đồ, hay do gia đình có người có học thức truyền thụ. Bà Phạm thị Hằng lúc nhỏ đến 14 tuổi (năm 1824), vì cha là Phạm Đăng Hưng đang làm quan ở Kinh đô Huế giao con cho em rể là ông Trần văn Đồ dạy chữ nghĩa kinh sử và em ruột là bà Phạm thị Phụng dạy công ngôn dung hạnh. Bà Phạm thị Hằng sau là Phi của Hoàng tử Miên Tông, tuy còn nhỏ mà nết na đầm thắm, phẩm hạnh đoan trang, tri thức chữ nghĩa vượt hơn các bà phi khác, là do công uốn nắn dạy dỗ của ông Đồ và bà Phụng ở thôn Thuận Ngãi, Huyện Tân Hoà vậy. Ông Đồ còn là thầy dạy con trai thứ bảy mình là ông Trần văn Toàn, em kế bà Trần thị Sanh và dạy cháu nội là Trần Đình Thiều. Hai người họ Trần nầy đậu Tú Tài triều Tự Đức, trước năm 1862 là năm Tây chiếm Huyện Tân Hoà. Ông Tú Hội (tên dân gọi ông Toàn) không làm quan mà ở thôn Thuận Ngãi thờ mẹ (ông Đồ mất năm 1860) sau giúp Trương công Định kháng Pháp và giúp chị chôn Trương công khi người tuẩn tiết (1864). Còn ông Trần Đình Thiều làm quan đến chức Hình bộ chủ sự ở Kinh đô Huế. Ông Chủ sự Thiều về trí sĩ tại Gò Công các năm cuối thé kỷ 19, ông mất đầu năm 1898 có để nhiều thơ văn đặc biệt là bài phú “Tân Hòa thắng cảnh” được truyền tụng từ thời bấy giờ. Hai chú cháu người họ Trần nầy người thì góp công kháng Pháp đầu tiên người thì làm rạng danh nền Nho học xứ Gò nên trước 1975 đều có tên đường trong nội thị Gò Công: đường Tú Hội và đường Chủ sự Thiều.
Trở lại việc thi cử, sau hai khoa thi Hương Gia Định, triều Gia Long, Nhà Nguyễn tiếp tục mở 17 khoa thi Hương tại Gia Định và 1 khoa cuối cùng tại Truờng An Giang năm 1864 do quan Kinh lược Phan đại thần mở. Tới thời điểm cuối của nền văn học giáo dục nho giáo ở miền Nam nầy, qua 20 khoa thi Hương, Nam bộ có được 270 vị Cử nhân và 3 vị trong số nầy đã đậu tiến sĩ tại các khoa thi Hội tại Kinh đô. Vị đầu tiên là Phan Thanh Giản đậu Cử nhân khoa Ất Dậu 1825 tại trường thi Hương Gia Định và Tiến sĩ khoa thi Hội năm Bính Tuất 1826 tại Kinh. Người thứ nhì là Phan Hiển Đạo quê ở huyện Kiến Hưng (Châu Thành) Định Tường, năm 1861 được cử làm Đốc học Định Tường, sau đó vì bị nghi là hợp tác với giặc, nên tự tận năm 1864, thật đáng tiếc và trân trọng cho tiết tháo của vị tiến sĩ nầy! Vị thứ 3 ở miền Gia Định, không rõ tên.
Trong 20 khoá thi Hương Nam Bộ xin kể những vị Cử Nhân có liên quan đến vùng đất Gò Công. Từ khi có Thủ Khoa Ngô Tùng Châu và Nguyễn Hoài Huỳnh, Phạm Đăng Hưng lần lượt đậu trong hai kỳ Ưu khoa 1791 và 1796 làm rạng rở xứ Gò, 46 năm sau đến khoa 1842 mới có Hồ Bá Phước người thôn Vĩnh Hựu, huyện Tân Hoà, đậu cử nhân thứ 8, rồi khoa Quí Mão 1843, Đỗ Trình Thoại, người thôn An Long (sau là hai làng Yên luông Đông và Yên luông Tây thời Pháp) huyện Tân Hoà (Gò Công) đậu cử nhân thứ 7. Ở khoa nầy Nguyễn Đình Chiểu đậu tam trường (Tú tài). Ông Thoại là Tri Huyện cuối cùng huyện Tân Hoà, khi Tân Hoà mất vào tay Pháp, ông hợp tác cùng nghĩa quân Trương Định và ngã xuống như một vì võ tướng trong trận tấn công Pháp tại “chợ” Gò Công đầu năm 1861. Trước 1975 có đường Huyện Thoại tại nội thị Gò Công, để kỷ niệm nhà khoa bảng, viên huyện đầu tiên chống Pháp ngã xuống tại quê hương nầy!
Rồi cuối cùng khoa Giáp Tý 1864 tại An Giang do Kinh lược Phan đại thần chủ trì, có ông Huỳnh Duy Thanh người thôn Thạnh Nhựt huyện Tân Hoà (Gò Công) đỗ cử nhân thứ 10.
Và khoa cử cựu trào khép lại ở toàn Nam Bộ và vùng Tân Hoà nầy.
Nam bộ sau 1867, thành 20 rồi 21 tỉnh thuộc Pháp. Riêng huyện Tân Hoà thành Hạt rồi Tỉnh Gò Công, số thứ tự hành chánh là 18, để ghi số trên ghe thuyền.
Văn hoá giáo dục sẽ có bước giao thời giữa cựu học “nho giáo” và “tân học” Phú lang sa - Việt quốc ngữ, rồi Việt mở rộng.
Riêng Văn hoá Giáo dục Gò Công trong thời kỳ từ 1864 dến 1975 được trình bày thành hai giai đoạn. Giai đoạn từ 1864 đến 1950, có hai nền giáo dục, giáo dục Nho giáo và giáo dục Pháp - Quốc ngữ Việt. Giai đoạn 1951 đến 1975, giáo dục Việt…
Trích trong “Văn Hóa Giáo Dục Gò Công từ 1756 đến 1975”của cùng tác giả
THƯ TỊCH THAM KHẢO
Địa chí Văn Hóa TP HCM – Tập 1 – Lịch sử- Sg 1987
Lịch sử Giáo dục Tiền Giang – Sở GD – Đ T – 1995
Đại Nam nhất thống chí- Gia Định – Định Tường
Đại Nam Thực lục
Quốc triều chánh biên
Quốc triều Hương khoa lục
Gia phả họ Trần
http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=1 Đọc thêm!
THỜI MỞ CỎI
PHAN THANH SẮC
I. NHẤT LÃM VĂN HÓA GIÁO DỤC Ở NAM BỘ
TRONG ĐÓ GÒ CÔNG THỜI MỞ CỎI
Gò Công, cũng như các miền khác của Nam Bộ, từ thế kỹ thứ 17, là chặng đường cuối của cuộc Nam Tiến thần kỳ của dân tộc ta. Lưu dân gốc đàng ngoài đã bắt đầu ở lại. Chỗ trù phú đông đúc lập thành thị buôn bán tấp nập, nơi trồng trọt được quần cư lập thôn lập xóm. Nét văn hoá nòi Việt, lưu dân mang theo.
Thuở ban đầu, chắc chắn không có bậc trí thức cao khoa hay học thức rộng, nhưng cũng có nhiều người có học dở dang không tiến thân được ở đàng ngoài, tìm vào đất hứa, mong lập nghiệp.
Chính những người nầy, là những người sẽ tạo hình một nền văn hoá đặc thù cho Nam Bộ khi họ tiếp xúc được với các vong thần Minh Triều Hoa Hạ.
Các quan lại Hán tộc nầy dẫn các thuộc hạ sang xin Chúa Nguyễn cho vào Miền Nam, khai thác xứ sở vốn còn hoang vu, ít người Thuỷ Chân Lạp bản xứ ở nầy.
Đó là bắt đầu từ năm 1679. Họ tỵ nạn với con số 3000 người. Tổng Binh Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến cùng thuộc hạ định cư ở Mỹ Tho. Tổng Binh Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần Anh Bình và thuộc hạ khai thác miền Bàn Lân, vùng Biên Hoà Gia Định sau nầy. Chính những người Trung Hoa nầy, góp phần rất lớn, đem nền văn hoá Minh Triều, đỉnh cao của văn hoá Phương Đông mà nước Việt ta, từ đàng trong đến đàng ngoài, đều chia sẻ và góp nét đặc thù, cũng được coi như là thành viên của nền văn hoá nhiều nghìn năm nầy.
Họ đến hai nơi của miền Nam, chúa Nguyễn giới thiệu với Chân lạp. Chân Lạp dung cho họ ở chung với một số người Việt đến trước đó. Họ sẽ khai thác miền Đông Thuỷ Chân Lạp thành hai đô hội, Biên Hoà và Mỹ Tho. Ta cũng không quên Mạc Cửu cũng là một tôi thần nhà Minh trốn chạy Thanh triều sang khai thác miền Tây Nam Thủy Chân Lạp cùng thời với các tướng ở trên rồi dâng đất thuộc Hà Tiên cho Chúa Nguyễn năm 1708, được Chúa Nguyển phong tước Tổng Binh truyền đời đất ấy.
Thế là Nam Bộ có ba vùng tập trung và truyền bá văn hoá Trung Hoa, trộn lẫn văn hoá bản địa. Số cư dân Việt biết chữ dù chút ít, đều có thể giao thiệp với họ bằng văn tự. Những nước đồng văn thật có lợi khi giao tiếp nhau. Nói nhau thì không hiểu nhưng dùng bút mạn đàm thì được. Dần dần, người chủ, cư dân Việt, người khách thuộc Minh hương hiểu nhau, ít mâu thuẩn nhờ văn tự.
II. HÒA ĐỒNG VĂN HÓA VIỆT HÁN
Văn hoá tương đồng dễ chấp nhận nhau. Còn văn tự thì thật là một phương tiện tuyệt vời giao tiếp của hai dân dị tộc. Người Tàu trương bảng hiệu buôn bán, ta đọc được. Thấy trên bảng hiệu có chữ “Đường” cuối, là ta biết ngay là nhà thuốc Bắc, như “Phước An Đường”. Thấy chữ “Hàng” cuối là ta biết đó là tiệm buôn, như “Hội Nguyên Hàng”. Thấy chữ “Học hiệu” biết là trường Tàu, như “Bồi Nguyên Học hiệu”. Tức nhiên là họ viết bằng chữ Tàu, ta gọi chung là chữ Hán, đọc theo giọng ta là chữ Nho …
Đồng văn, nên người Tàu giúp rất nhiều cho việc truyền bá Nho học cho xứ Nam Kỳ xa xôi với các nôi văn hoá của nòi Việt. Ngoài việc họ trực tiếp hay gián tiếp đào tạo hay giúp các người Việt, ban đầu biết chút ít chữ nghĩa, giỏi dần lên, thu thập văn hoá Tàu theo cách Việt. Sách vở từ liệt thư, tiểu thuyết cổ điển, cả sách cổ xuý canh tân của Tàu, đều đến được miền có người Tàu sinh sống. Họ vẫn liên lạc với xứ sở cũ bên Tàu, do thuyền bè đi lại thông thương. Rồi, từ họ các nhà nho ta cũng có sách vở Tàu mà nghiên cứu. Chỉ có sách thuốc là sách quý, họ ít giao cho người Việt. Thế nhưng ta cũng có cách lấy. Cách “thần sầu”, ta đã thực hiện để mở hai chặng đường Nam Tiến. Cách gả “Huyền Trân Công Chúa” đời Trần cho vua Chiêm và cách gả “Ngọc Vạn Công Nương” cho vua Chân Lạp, thời Chúa Nguyễn. Người Tàu ban đầu ở Nam Kỳ rồi cũng có hôn nhân với người Việt. Thường thì chỉ “chồng Tàu vợ Việt”, vài đời thì ông thầy thuốc giỏi người Tàu đã là ba phần mẹ Việt rồi. Thế là sách thuốc Tàu “quí”, người Việt cũng có được. Chuyện xưa Trọng Thuỷ Mỵ Châu, người Nam bộ áp dụng ngược lại một cách hiệu quả. Chàng Trọng Thuỷ Tàu không gạt được nàng Mỵ Châu “trái tim lầm lở để trên đầu” được nũa, mà gạt để làm gì khi mà đất “tạm dung” đã trở thành bản địa. Văn minh văn hoá mang theo, người Tàu không khu biệt dấu diếm, mà trải nhập hoà đồng với văn hoá bản xứ khá thuận lợi. Người biết chữ dở dang ở miền Nam, do tiếp xúc nhiều nguồn nầy mà giỏi chữ nghĩa hơn. Không học ở trường với các danh nho khoa nghiệp miền ngoài mà cũng có nhiều người do tiếp thu đa nguồn, tìm tòi nghiên cứu sách vở, không còn hiếm hoi nữa, để trở thành những bậc danh nho làm rở mặt cho miền mới vừa thoát vòng hoang vu, u địa nầy.
III. KHAI SÁNG NỀN HỌC THUẬT PHƯƠNG NAM
Trở lại, lúc ban đầu mở cỏi miền Nam, đa số lưu dân là những người ít chữ nghĩa nhưng hiếu học. Cũng nhờ hai trung tâm Đồng Nai - Mỹ Tho và Hà Tiên vun bồi nền văn hoá Trung Hoa đồng văn và tiếp nối giao lưu đàng ngoài mà con em của lưu dân ở lại nầy, tuy ít nhưng có người mài mò tự nghiên cứu sách vở, nổi bật lên, sáng lên như các vì sao sáng ở bầu trời ít sao của phương Nam.
Người đầu tiên không đỗ đạt khoa cử nhưng được biết đến như là bậc thầy tôn kính. Cụ Võ Trường Toản, thời giành giật giữa Tây Sơn Nguyễn Lữ và Chúa Nguyễn Phước Ánh, là người khai đường mở lối cho bao bậc sĩ phu miền Nam. Cụ ẩn náo tại Bình Dương (cũ) nghiên cứu sách vở và mở trường dạy học. Nhiều môn đệ của cụ đều đỗ đạt cao, làm quan có phẩm chất. Như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định là những người chủ trương “Bình Dương thi xã”[1] và được xưng tụng là “Gia Định tam gia thi”. Cùng “Chiêu Anh Các” ở Hà Tiên, Bình Dương thi xã có những thi sĩ dù chưa xứng bậc thi hào nhưng cũng khiến các nhà nho khoa bảng miền ngoài nể phục. Riêng người học trò xuất sắc nữa của cụ Võ là Ngô Tùng Châu vị thủ khoa của miền Gò Công xuất thân mà cuộc đời quá lẩm liệt, sẽ được nhắc nhở ở đoạn sau viết về khai sáng miền Khổng Tước Nguyên qua các thời kỳ….
IV. THƯ HƯƠNG GÒ CÔNG
Sách Địa Chí Văn hoá TP HCM, xuất bản những năm vừa đây ở phần Lịch sử Gia Định xưa cũng ghi :
Ông Ngô Tùng Châu với văn tài xuất chúng được toàn miền Nam thời đó nể phục chỉ sau thầy mình là cụ Võ Trường Toản.
Gò Công từ năm 1852 là Huyện Tân Hòa thuộc Phủ Tân An Tỉnh Gia Định,.TP HCM nhận truyền thống Gia Định xưa là truyền thống của TP nên ông Ngô Tùng Châu là nhân tài kiệt xuất của Gò Công nên coi là thuộc Gia Định vậy!
Ông Ngô Tùng Châu, gốc Ninh Hoà, Bình Thuận cũ, vào cư trú tại An Long Thôn, Kiến Hoà Huyện, Trấn Định Dinh. Sau nầy Thôn An Long từ 1864 thời Pháp gọi trại là Yên Luông rồi tách ra thành làng Yên Luông Đông và Yên Luông Tây. Còn Huyện Kiến Hoà từ lúc mở cỏi 1756 gồm toàn bộ Bãi Khổng Tước tức Gò Công thêm Chợ Gạo thêm Cù Lao Bảo của Bến Tre ngày nay. Còn Dinh Trấn Định rộng lớn gồm Định Tường, Long An, Vĩnh Long và Bến Tre sau nầy.
Trở lại sau khi vào đến Thôn An Long Ngô Tùng Châu lại tìm lên Bình Dương thọ giáo với cụ Võ Trường Toản, thành môn đồ xuất sắc của cụ Võ cùng với Gia Định Tam gia thi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định đã biết ở trên. Lúc đó Gia Định Đồng Nai, nói chung là Nam Kỳ, mới lập, thời cuộc nhiểu nhương, Tây Sơn đã nổi và vào Nam Kỳ truy đuổi chúa Nguyễn từ năm 1776, Ngô Tùng Châu về dạy học tại quê mới, mong đem sở học mở mang dân trí bổn địa. Nơi dạy học, vì sau ông đậu Thủ Khoa, nên gọi là Xóm Thủ, thuộc Yên Luông, Gò Công. Lúc nầy, có người hào kiệt trẻ tuổi Võ Tánh khởi nghiệp tại Gò Tre, từ 1783, Ngô Tùng Châu đến giúp cơ mưu, nhưng rảnh việc quân là về An Long dạy học và cũng chính nhờ có ông và các sĩ phu khác, phân tích cho Võ Tánh thế cuộc không thể cát cứ một phương như chí ban đầu của Võ, mà nên hợp tác với Chúa Nguyễn Ánh, người mà dân Nam Bộ xem như là đại diện giòng họ đã mở cỏi miền Nam. Võ Tánh nghe phải và năm 1788, kéo đạo quân Kiến Hoà miền Khổng Tước, truy đuổi tướng mạnh của Tây Sơn là Thái bảo Phạm văn Tham, bức hàng bức tử tướng nầy. Sau đó giúp chúa Nguyễn, lập công nhiều, đem toàn miền Nam về cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn về Gia Định lên ngôi vương, cũng năm 1788 đó. Ngô Tùng Châu rất được Nguyễn Vương phục tài nể trọng, lúc nầy Ngô chưa đỗ đạt nên Vương cho làm một viên quan văn (Hàn lâm chế cáo), vừa đảm trách công việc đốc sức dân làm ruộng (Điền Tuấn
------------------------------------------------------------------
[1] Thật ra tên gọi chính thức của BÌnh Dương thi xã là “Sơn Hội Gia Định”, theo như chính Trịnh Hoài Đức viết trong bài Tự đề tựa Cẩn Trai thi tập. Tên gọi “Bình Dương thi xã” chỉ mới xuất hiện vào thời gian 1937 – 1944, trong quá trình nghiên cứu về Sơn Hội của một số trí thức ở Sài Gòn mà thôi. (Cao Tự Thanh trong “mấy ý kiến trao đổi lại về bài “Bình Dương Thi xã” – Tập chí Văn TPHCM số 21, tháng 8 – 1992)
V. HAI KỲ ƯU KHOA, NGƯỜI GÒ CÔNG ĐỖ ĐẠT
Đồng thời, sau khi củng cố quyền bính ở Gia Định, Nguyễn vương muốn có người khoa bảng phục vụ chế độ, nên tổ chức lần lượt hai khoa thi Tân Hợi 1791 và khoa thi Bính Thìn 1796 tại Gia Định. Đây là hai khoa thi đầu tiên của miền Nam bộ mở cỏi, nhằm lấy người đỗ hạng Ưu để bổ làm Nho học Huấn đạo phủ lễ sinh và người đỗ hạng Thứ được gọi là Nhiêu học để tuỳ việc phân bổ phục vụ việc hàn lâm. Người thủ khoa của những người đỗ ưu khoa Tân Hợi đầu tiên nầy là Ngô Tùng Châu học trò suất sắc của “Sùng Đức Tiên sinh” Võ Trường Toản. Thêm người đỗ hạng Ưu cùng khoa Tân Hợi 1791 cũng là người Gò Công, cũng là vị mưu sĩ của đạo quân Kiến Hòa của Võ Tánh là Nguyễn Hoài Quỳnh học trò giỏi của “Kiến Hòa Tiên sinh” Phạm Đăng Long mở trường dạy tại Thôn Tân Niên Đông, Huyện Kiến Hòa.
Ngô Tùng Châu sau khi đỗ Thủ khoa được thăng Lễ bộ và được chọn làm thầy dạy Đông cung Nguyễn Phước Cảnh, cùng với Giám mục Bá Đa Lộc, Pigneau de Béhaine. Đây là công việc rất khó khăn và tế nhị, song Ngô Tùng Châu đã khéo léo vượt qua và với “sự học hành thuần chánh”, Ngô Tùng Châu hết lòng can răn, khiến Đông cung Cảnh nể trọng lắm. Sử sách đều đồng ý, Ngô Tùng Châu là tay văn học kiệt xuất, học trò giỏi nhất của Võ Trường Toản và ghi thêm là nhà giáo lớn ở Nam Bộ hồi nửa sau thế kỷ thứ 18.
Sau nầy, sự nghiệp của ông Ngô gắn chặt với ông Võ Tánh giữ thành Bình Định từ năm 1799 đến 1801; người uống thuốc độc, người ung dung nhìn ngọn lửa bừng lên, đều rạng tấm lòng son. Hơn hai trăm năm qua mà tấm can trường của hai người, dân Gò Công mãi nhớ, trong các đình làng, bài vị hai người được thờ, trong cúng tế, tước vị phong Thần của hai người được xưng tụng.
Nguyễn Hoài Quỳnh là học trò của Phạm Đăng Long, trước khi dự thi ưu khoa từng theo Võ Tánh lập đạo quân Kiến Hòa và theo Đạo quân nầy giữ thành Bình Định. Trốn thoát sau khi thành Bình Định thất thủ năm 1801, ông làm quan cho triều Nguyễn từng giữ tới chức Tả Tham tri bộ Hình kiêm lãnh Hình tào Bắc Thành.
Kiến Hòa Tiên sinh Phạm Đăng Long từng có nhiều học trò tuy không không khoa bảng nhưng theo đạo quân Kiến Hòa cho tới khi thất thủ thành Bình Định, sống sót làm quan danh tiếng một thời như:
Nguyễn Văn Hiếu từng giữ chức Đê chính Bắc thành, Trấn thủ Nghệ An, Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình. Ông là “người khiêm tốn hòa nhã, trị dân có chính tích tốt”. Trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng thời Pháp có bài “Ông quan liêm chính” nói về ông nguyễn Văn Hiếu, gốc người Gò Công đó.
Mạc Văn Tô cũng thuộc đạo quân Kiến Hòa, giữ các chức Lưu thủ Trấn Biên, Hữu quân phó tướng, Khâm sai Chưởng cơ, chỉ huy quân biên phòng ở mạn Quang Hóa (Tây Ninh).
Người thứ ba ở Gò Công, đỗ Ưu khoa Bính Thìn 1796[1] là Phạm Đăng Hưng, con và học trò của Kiến Hoà Tiên sinh Phạm Đăng Long. Ông Phạm Đăng Hưng sau nầy hoạn lộ hanh thông làm tới chức Lễ bộ Thương thư triều vua Gia Long và Minh Mạng. Điều may mắn là ông sanh được một gái út Phạm Thị Hằng, sau làm bà Hoàng đức hạnh, làm rạng rở miền “Đất lành” nầy. Đó là Đức Thái Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Vì có Đức Bà Từ Dũ mới có khu “Lăng Hoàng Gia” chôn các tổ phụ nơi quê hương bà.
Lăng Hoàng Gia xưa thuộc thôn Tân Niên Đông Huyện Tân Hòa nay là xã Long Hưng Thị xã Gò Công, đã vào chính sử do Hoà ước năm 1862 nhường Pháp ba tỉnh miền Đông có một biệt khoản yêu cầu Pháp phải giữ gìn và nhất là trong cuộc Kháng chiến chống Pháp đầu tiên (1862 – 1864) đây là Tổng hành dinh của Nghĩa quân Trương Công Định.
----------------------------------------------------------------
[1] Tac giả Huỳnh Minh trong “Gò Công xưa và nay” ghi: Ông Phạm Đăng Hưng thi đỗ Tam Trường (Tú Tài) khoa thi hương năm Bính Thìn 1784, nhầm lẫn hai điểm : Thứ nhứt Bính Thìn là năm 1796, còn năm 1784 là năm Giáp Thìn. Lại nữa năm 1784 là năm Chúa Nguyễn bị Tây Sơn đánh tan tác. Tây Sơn Nguyễn Huệ vào Nam cuối năm 1784 để đầu năm 1785 phá tan quân Xiêm ở Rạch Gầm Định Tường, ổn định ở đâu mà Chúa Nguyễn hay Tây Sơn Nguyễn Lữ đóng ở Gia Định tổ chức khoa thi. Cái lầm nầy bây giờ ai viết về ông Phạm Đăng Hưng đều viết ông đậu năm Bính Thìn 1784 cả. Cái lầm thứ hai, đã không có thi Hương thì làm gì có “Tam Trường” là Tú Tài. Xác nhận ông Phạm Đăng Hưng đậu kỳ thi Ưu khoa thứ nhì năm Bính Thìn 1796. Ưu khoa tương đương Hương khoa sau nầy và người đậu ưu tương đương “Cử nhân” Hương khoa. Vì ai cũng biết năm 1788 Chúa Nguyễn mới chiếm lại trọn vẹn miền Gia Định, chúa mới tổ chức được 2 khoa thi 1791 và 1796 như trên. Vã lại nếu ông Phạm Đăng Hưng đậu có Tú Tài mà làm quan tới Lễ Bộ Thượng Thư. Được à? Nên nhớ ông là Lễ Bộ Thượng Thư trước khi con gái ông là Bà Phạm Thị Hằng nhập cung năm 1824 để sau thành Đức Bà Từ Dũ. Xin tôn trọng người xưa và nên biết “Sử” mà tránh ghi cái sai của người viết trước!
|
VI. CÁC KHOA THI HƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
Qua thế kỷ thứ 19, sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long có ý định chấn hưng nền học thuật ở phía Nam, là đất dựng nghiệp của vua nhưng chưa phát triển ngang bằng hai miền Trung Bắc. Tuy nhiên vì mới khai sinh, triều đại đa đoan công việc, việc mở mang giáo dục miền Nam của vua không được như mong muốn. Triều Gia Long dài 20 năm, chỉ mở hai khoa thi Hương đầu tiên tại Gia Định cho toàn bộ Nam kỳ.
Khoa Quí Dậu 1813 lấy 8 cử nhân. Đó là 8 vị Cử nhân đầu tiên của Nam Kỳ.
Đến khoa Kỹ Mão 1919, lấy 12 cử nhân.
Hết triều vua Gia Long toàn miền Nam mới có 20 cử nhân. Các Huyện lân cận của Gò Công thuộc Kiến Hoà có 2 vị là Nguyễn Tấn Bá, cử nhân thứ 7 khoa 1813, người thôn An Bình huyện Kiến Đăng (Cai Lậy) và Đặng văn Mô, cử nhân thứ 3 khoa 1819 người thôn Thanh Hưng, huyện Kiến Đăng.
Vùng Gò Công tới đây chưa có cử nhân nào.
Sang triều vua Minh Mạng, mọi mặt ổn định, việc giáo dục các miền được quan tâm, và phát triển vững chắc. Song hành với việc chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh (1832), các trường học cấp tỉnh, phủ, huyện được thành lập, đóng vai trò tích cực trong việc giáo hoá nhân dân. Triều đình lưu ý đến thanh niên thiếu niên, khuyến học thiết thực, đặt ra ngạch “học sinh” ở trường tỉnh, cho hưởng qui chế đặc biệt, cấp học bổng cho những “học sinh” có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng hiếu học. Còn ngạch “học sinh” thì như sau nầy có ông Nguyễn văn Lạc người làng Mỹ Chánh (bây giờ ở Mỹ Tho) được hưởng ngạch nầy, nên bây giờ ta biết đã từng có nhà thơ trào phúng Học Lạc có chỗ ngồi trong Văn học miền Nam thưở giao thời Pháp Việt.
Song song với việc lập trường, nhà Nguyễn đặt ra các chức Học quan. Ở trường Tỉnh có Đốc học, ở trường Phủ có Giáo thọ, ở trường phân Phủ hay Huyện có Huấn đạo, ở các Tổng có Tổng giáo. Nhiệm vụ của các vị Học quan nầy là “trông nôm việc dạy học và khảo hạch học trò” trong vùng trách nhiệm của mình. Lương của các vị học quan nầy tuỳ theo từng cấp mà được một phần tiền và gạo. Học quan thấp có lương mỗi tháng là một quan tiền và và một vuông (phương) gạo lối 30kg. Thời đó tiêu chuẩn tuyển lựa, phong đặt các chức học quan rất nghiêm ngặt. Những vị nầy phải “kính cẩn đoan chính, nêu gương mô phạm để dạy học trò”. Tức là phải thoả hai tiêu chuẩn đức và tài. Đức là tư tưởng vì dân, vì nước, trung quân ái quốc, hành xử đúng đắn, có phẩm chất cá nhân, hợp với các yêu cầu của nghề dạy học, làm gương cho học trò. Còn tài là phải đỗ đạt khoa cử, phải có trình độ tri thức tương xứng với chức vụ. Có điều là giữa đức và tài thì triều Nguyễn xem đức trọng hơn tài. Các chức học quan do cấp tỉnh tâu đề cử về triều, qua ý kiến của Bộ Lại, vua mới phê duyệt đề cử nầy. Đời Tự Đức có nhiều trường họp, việc đề cử các quan địa phương bị truất vì phẩm hạnh làm chức học quan đều không được chấp thuận.
Riêng Gò Công năm 1831 triều Minh Mạng, được lập làm huyện Tân Hoà, thuộc Định Tường (một trong lục tỉnh Nam Kỳ), không thấy có trường huyện riêng, phải học theo hệ thống giáo dục trường dân của các thầy đồ, hay do gia đình có người có học thức truyền thụ. Bà Phạm thị Hằng lúc nhỏ đến 14 tuổi (năm 1824), vì cha là Phạm Đăng Hưng đang làm quan ở Kinh đô Huế giao con cho em rể là ông Trần văn Đồ dạy chữ nghĩa kinh sử và em ruột là bà Phạm thị Phụng dạy công ngôn dung hạnh. Bà Phạm thị Hằng sau là Phi của Hoàng tử Miên Tông, tuy còn nhỏ mà nết na đầm thắm, phẩm hạnh đoan trang, tri thức chữ nghĩa vượt hơn các bà phi khác, là do công uốn nắn dạy dỗ của ông Đồ và bà Phụng ở thôn Thuận Ngãi, Huyện Tân Hoà vậy. Ông Đồ còn là thầy dạy con trai thứ bảy mình là ông Trần văn Toàn, em kế bà Trần thị Sanh và dạy cháu nội là Trần Đình Thiều. Hai người họ Trần nầy đậu Tú Tài triều Tự Đức, trước năm 1862 là năm Tây chiếm Huyện Tân Hoà. Ông Tú Hội (tên dân gọi ông Toàn) không làm quan mà ở thôn Thuận Ngãi thờ mẹ (ông Đồ mất năm 1860) sau giúp Trương công Định kháng Pháp và giúp chị chôn Trương công khi người tuẩn tiết (1864). Còn ông Trần Đình Thiều làm quan đến chức Hình bộ chủ sự ở Kinh đô Huế. Ông Chủ sự Thiều về trí sĩ tại Gò Công các năm cuối thé kỷ 19, ông mất đầu năm 1898 có để nhiều thơ văn đặc biệt là bài phú “Tân Hòa thắng cảnh” được truyền tụng từ thời bấy giờ. Hai chú cháu người họ Trần nầy người thì góp công kháng Pháp đầu tiên người thì làm rạng danh nền Nho học xứ Gò nên trước 1975 đều có tên đường trong nội thị Gò Công: đường Tú Hội và đường Chủ sự Thiều.
Trở lại việc thi cử, sau hai khoa thi Hương Gia Định, triều Gia Long, Nhà Nguyễn tiếp tục mở 17 khoa thi Hương tại Gia Định và 1 khoa cuối cùng tại Truờng An Giang năm 1864 do quan Kinh lược Phan đại thần mở. Tới thời điểm cuối của nền văn học giáo dục nho giáo ở miền Nam nầy, qua 20 khoa thi Hương, Nam bộ có được 270 vị Cử nhân và 3 vị trong số nầy đã đậu tiến sĩ tại các khoa thi Hội tại Kinh đô. Vị đầu tiên là Phan Thanh Giản đậu Cử nhân khoa Ất Dậu 1825 tại trường thi Hương Gia Định và Tiến sĩ khoa thi Hội năm Bính Tuất 1826 tại Kinh. Người thứ nhì là Phan Hiển Đạo quê ở huyện Kiến Hưng (Châu Thành) Định Tường, năm 1861 được cử làm Đốc học Định Tường, sau đó vì bị nghi là hợp tác với giặc, nên tự tận năm 1864, thật đáng tiếc và trân trọng cho tiết tháo của vị tiến sĩ nầy! Vị thứ 3 ở miền Gia Định, không rõ tên.
Trong 20 khoá thi Hương Nam Bộ xin kể những vị Cử Nhân có liên quan đến vùng đất Gò Công. Từ khi có Thủ Khoa Ngô Tùng Châu và Nguyễn Hoài Huỳnh, Phạm Đăng Hưng lần lượt đậu trong hai kỳ Ưu khoa 1791 và 1796 làm rạng rở xứ Gò, 46 năm sau đến khoa 1842 mới có Hồ Bá Phước người thôn Vĩnh Hựu, huyện Tân Hoà, đậu cử nhân thứ 8, rồi khoa Quí Mão 1843, Đỗ Trình Thoại, người thôn An Long (sau là hai làng Yên luông Đông và Yên luông Tây thời Pháp) huyện Tân Hoà (Gò Công) đậu cử nhân thứ 7. Ở khoa nầy Nguyễn Đình Chiểu đậu tam trường (Tú tài). Ông Thoại là Tri Huyện cuối cùng huyện Tân Hoà, khi Tân Hoà mất vào tay Pháp, ông hợp tác cùng nghĩa quân Trương Định và ngã xuống như một vì võ tướng trong trận tấn công Pháp tại “chợ” Gò Công đầu năm 1861. Trước 1975 có đường Huyện Thoại tại nội thị Gò Công, để kỷ niệm nhà khoa bảng, viên huyện đầu tiên chống Pháp ngã xuống tại quê hương nầy!
Rồi cuối cùng khoa Giáp Tý 1864 tại An Giang do Kinh lược Phan đại thần chủ trì, có ông Huỳnh Duy Thanh người thôn Thạnh Nhựt huyện Tân Hoà (Gò Công) đỗ cử nhân thứ 10.
Và khoa cử cựu trào khép lại ở toàn Nam Bộ và vùng Tân Hoà nầy.
Nam bộ sau 1867, thành 20 rồi 21 tỉnh thuộc Pháp. Riêng huyện Tân Hoà thành Hạt rồi Tỉnh Gò Công, số thứ tự hành chánh là 18, để ghi số trên ghe thuyền.
Văn hoá giáo dục sẽ có bước giao thời giữa cựu học “nho giáo” và “tân học” Phú lang sa - Việt quốc ngữ, rồi Việt mở rộng.
Riêng Văn hoá Giáo dục Gò Công trong thời kỳ từ 1864 dến 1975 được trình bày thành hai giai đoạn. Giai đoạn từ 1864 đến 1950, có hai nền giáo dục, giáo dục Nho giáo và giáo dục Pháp - Quốc ngữ Việt. Giai đoạn 1951 đến 1975, giáo dục Việt…
Trích trong “Văn Hóa Giáo Dục Gò Công từ 1756 đến 1975”của cùng tác giả
THƯ TỊCH THAM KHẢO
Địa chí Văn Hóa TP HCM – Tập 1 – Lịch sử- Sg 1987
Lịch sử Giáo dục Tiền Giang – Sở GD – Đ T – 1995
Đại Nam nhất thống chí- Gia Định – Định Tường
Đại Nam Thực lục
Quốc triều chánh biên
Quốc triều Hương khoa lục
Gia phả họ Trần
http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=1 Đọc thêm!
VĂN THƠ GÒ CÔNG CŨ
Mở đàu nền Văn học học Gò Công đầu tiên là bài Tân Hòa Thắng Cảnh (1890) của ông Chủ sự Hình bộ Triều đình Huế ,Trần Đình Thiều. Ông Chủ sự Thiều là cháu gọi bà Trần Thị Sanh bằng cô ruột. Bài Tân Hòa Thắng Cảnh là bài “phú” bằng chữ Hán ca tụng các danh thắng của huyện Tân Hòa tức Gò Công cũ buổi giao thời Pháp đặt nền mống cai trị đất Nam Kỳ thuộc Pháp. Vì viết bằng Hán Văn nên bài phú nay không ai còn đọc hiểu được dù có âm ra chữ Quốc ngữ Việt. Kẻ ghi những dòng nầy ngậm ngùi cũng đành lưu lại bài phú thành dạng “cổ” nhớ buổi giao thời.
Nữa thế kỷ sau các con cháu của ông Chủ sự Thiều và các văn thi hữu ở Gò Công từ các năm 1940 lập Văn đàn Gò Công làm thơ Đường xướng họa nay thu góp cũng trên mấy trăm bài, cũng chỉ để làm kỷ niệm, ai biết ai hay?
Nay mở đầu trang văn học cũ, xin giới thiệu một bài thơ của một thi hữu Gò Công Văn đàn:
TẠ BẠN LÀNG VĂN
Thanh Trúc, Gò Công cánh nhạn liền,
Kể từ Văn tự kết nên duyên;
Nước mây ngàn dậm tình bầu bí,
Son sắt một lòng nợ bút nghiên;
Trí não dày công bồi dưỡng lẫn,
Tinh thần nặng mối cảm hoài riêng;
Cùng nhau những ước khi tương hội,
Dưới nguyệt trên hồ thưởng vị sen
NGUYỄN HUỲNH MAI
(1899 – 1972)
Đọc bài thơ thấy hương thoảng xa xưa như các bài thơ của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị. Văn Đàn Gò Công 1940 gồm những bài thơ như thế. Tập hợp rồi in, nghĩ có ai đọc chăng? Người Gò Công thời nay chắc chỉ nhớ có Gò Công Văn Đàn để tự hào! Làm sao đọc hiểu hết được những bài thơ của Văn Đàn vì mỗi bài thơ xuất phát từ một hoàn cảnh cụ thể của thời đó. Sự giao tiếp của thi hữu với nhau trong cảnh riêng mà thành tình nên thơ. Như bài thơ Đường trên ông Nguyễn Huỳnh Mai họa lại một bài thơ của thi hữu ở xa. Ông Nguyễn Huỳnh Mai là nhà nho, nhà giáo tân học, nhà thơ, nhà văn Gò Công có ngoại tổ là anh ruột ông Chủ sự Thiều, ông kết bạn chi lan với nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Pháp ở Thanh Trúc, Hà Tiên và làm thơ thù tạc, kẻ hậu sinh làm sao biết.
Và các bài thơ của Gò Công Văn Đàn 1940 trôi vào dĩ vãng.
Từ trang nầy người viết muốn ghi lại chuyện xưa trân trọng vậy!
PHAN THANH SẮC
VẠCH BÓNG NGƯỜI XƯA
VĂN HOÁ CHỮ NGHĨA THƠ VĂN
GÒ CÔNG VĂN ĐÀN - 1940
Nữ thi sĩ Manh Manh và nhà văn Hồ Biểu Chánh là những người gốc Gò Công có những đóng góp văn hoá cho cả đất nước. Giới văn học đương thời ngưỡng phục và hiện đại còn đánh giá cao. Sự nghiệp văn chương của hai người lưu trong văn học sử, Gò Công cũng hãnh diện.
Ngoài ra cũng còn những nguời địa phương vững nền tản nho học, thêm hấp thụ giáo dục Tây phương, lúc nhàn công việc hay hết công vụ về hưu, làm thơ và cùng nhau xướng hoạ. Rồi do vài vị xướng thành phong trào qui tụ được nhiều người, thành lập thành văn đàn lấy tên là Văn đàn Gò Công trong những năm cuối 1930 và đầu các năm 1940.
Mục đích của Văn đàn là kết bạn bè đồng chí hướng cùng nhau hưởng thú văn chương, mỗi tháng họp nhau một lần, thưởng thức hương trà, ngâm vịnh thư phú, cùng xướng hoạ thơ Đường. Các thi hữu ở quanh vùng và các tỉnh lân cận nghe tiếng rủ nhau đến giao du, trao đổi thi văn rất hào hứng.
Những vị gầy dựng văn đàn được biết như:
Ông Trần văn Quảng (1876-1944), Hội đồng Địa hạt Gò Công, cháu cố ông Trần văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng. Bà Phụng là cô ruột Đức Thái hoàng thái hậu Từ Dũ. Ông Hội đồng Quảng gọi bà Trần Thị Sanh bằng bà sáu, gọi ông Hình bộ Chủ sự Trần Đình Thiều là chú ruột, thuộc nếp thư hương, nên làm thơ phú rất đạt, các bạn thơ nể trọng mời làm chủ Văn đàn. Ông còn lưu lại vài thi tập, hiện do người con gái là Cô giáo Trần Thành Mỹ dạy Trung Học Gò Công hiện sống ở Belgium giữ.
Các thi hữu tích cực ở Văn đàn được biết như các ông Nguyễn Duy Dương, Dương văn Lời, Lê Bằng Ý, Thái Hoà, Quách văn Nghĩa, Phạm Đăng Thà, Thiên Kim Nguyễn văn Thắng, Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai, Trần văn Năng, Nguyễn Khánh Sở, Minh Hưng, Bà giáo Võ Kim Quyện v.v.
Ông Nguyễn Duy Dương có nhà cửa rộng rãi khang trang tại chợ Gò Công, dùng nơi hội hợp văn đàn.
Ông Dương văn Lời là một hào phú trước 1945 ở tại ngôi nhà lớn ngó qua rạp hát. Ông Lời đậu bằng Diplôme, làm hương chức hội tề làng Thành Phố, đến 1945 là hương cả. Khi Pháp trở lại Gò Công tháng 10-1945 ông bị nạn. Ông được biết là người nói tiếng Pháp rất giỏi, thuộc những từ chánh trong cuốn Từ điển Larousse đồ sộ tiếng Pháp.
Ông Lê Bằng Ý là Chánh án Toà Hoà Giải Gò Công, nhà ở sau Dinh Tỉnh trưởng.
Các ông Nguyễn Huỳnh Mai, Nguyễn văn Thắng, Nguyễn Khánh Sở, cô Võ Kim Quyện ông Trần văn Năng là các giáo học của Trường Quan tức Trường Nam Tiểu học Gò Công.
Ông Quách văn Nghĩa là điền chủ Đồng Sơn là rể lớn thứ ba của ông Trần văn Quảng, thường xuống chợ Gò Công họp Văn đàn.
Ông Phạm Đăng Thà là Hội đồng địa hạt, người Vĩnh Lợi, là cha của Tiến sĩ Phạm Đăng Thuật các năm trước 1970 có làm Tổng Giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân Học vụ Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn. Ông Hội đồng Thà kết nghĩa suôi cơ với ông Hội đồng Quảng, nhưng sau 1945 không thành.
PHAN THANH SẮC
TRÍCH NHỮNG BÀI XƯỚNG HỌA
CỦA HỘI TAO ÐÀN GÒCÔNG
Ðề tài: THI HỮU ÐỒNG TÂM
Kim Lan đầm thấm khí thanh đồng,
Son đỏ chưa đầy sắc đỏ không.
Thủ thiện chập chồng ân thuận võ,
Phụ nhơn thâm thía nghĩa hòa phong.
Tuy không đờn sáo mà vui chí,
Vẫn có văn chương đủ thưởng lòng.
Vội vã lộn giày mừng rước bạn,
Trọng vì tài đức nửa giao long.
Trần văn Quảng
Phỉ nguyền gặp lại bạn tâm đồng,
Sớm hỏi cố nhân phải nợ không?
Bủa đức ra nhơn nhuần thoại võ,
Tiềm hiền nhóm sĩ luận thuần phong.
Câu văn thâm thúy xem vui dạ,
Ðiệu phú thanh tao đọc thỏa lòng.
Xóc áo chưa rồi toan tiếp khách,
Trọng tài khởi phụng với đằng long.
Lê Bằng Ý
KHÓC QUAN HOÀI QUỐC CÔNG VÕ TÁNH
Người đã chết tiếng còn thanh
Võ Tánh đây là bực Vĩ Anh.
Giúp nước ngày lo đầy sáu khắc,
Phò vua đêm liệu trót năm canh.
Sống thời làm tướng phơi gan mật,
Thác lại hiển thần rạng chí linh.
Trăm trận tử sanh nào có nại,
Trước sau vẹn giữ tấm trung thành.
Dương văn Lời
Lửa hồng soi rạng khấp thiên thanh,
Sánh với lòng son bực tuấn anh.
Khẳn khái thờ vua lầu tám góc,
Cần cù giữ giặc trống năm canh.
Thí xe thắng nước cờ huyền bí,
Ðổi ngói lải vàng trí diệu linh.
Bia tháp cánh tiên trường qquốc sử,
Ngàn năm tạc để tiết trung thành.
Nguyễn Huỳnh Mai
CẢNH AO SEN
Rỡ rỡ sen buông nực những hương,
Dẩy đầy thanh tịnh cảnh hồ gương.
Gấm thêu trắng đỏ hoa quân tử,
Chất sạch sẵn nhờ nước tuyết sương.
Phảng phất gật đầu cười giởn gió,
Thung dung chặng mặt bóng chào gương.
Chữ nhàn mua mắc bao nhiêu cũng
Với bức đồ thơ hộp một trường.
Trần văn Quảng
Một cảnh ao sen nực mùi hương,
Bạch liên rỡ rỡ sáng như gương.
Thành cao gió tịnh sanh thêm ngó,
Nước bích đông đơm hướng lấy sương.
Nhạn trắng đậu xen nơi diệu xứ,
Ðêm thâm khó nhận thuở tà dương.
Yêm điềm thanh cảnh đầy phong thủy,
Cẩm tú giang san gẩm một trường.
Phạm đăng Thà
Tựa: ÐỀ TẶNG QUAN LỤC SỰ LÊ BẰNG Ý
Cốt cách như ông có mấy ai.
Làm quan thanh bạchcũng anh tài.
Ân nhà chan chứa ân ba gội,
Lộc phước dồi dào lộc phước dày.
Ðen đỏ sắc tình người sở thích
Ðá vàng lòng, thẻ bạc hằng ghi.
Mặt xanh một mực không xem trắng
Phương viện làm gương hướng đạo đài.
Trần văn Quảng
Ðạo vị trên đời gẫm ít ai
Khen ông mến đức chuộng nhơn tài.
Ðôi lời vàng đá ân tình nặng
Một bức trân châu phẩm giá dày.
Gà nếp sắc son bia tạc để
Cầm thơ duyên nợ sách còn ghi.
Thỏa lòng gặp gở người tri kỷ
Gió thuận đẩy đưa gió Tước-Ðài.
Lê Bằng Ý
SAIGON CẢNH CŨ
Xướng
Saigon sớm tối vẫn om sòm,
Ngán chỗ phồn hoa mắt biến dòm.
Nữ tú áo dài đi lượt bược
Nam thanh quần cụt nhắc cà nhom.
Cùng đường quan lộ người chen lấn,
Các ngõ công môn kẻ đứng khòm .
Mệt bấy tưởng đời danh với lợi,
Ðau bằng thi hữu thích say mòm.
Họa
Cũng không om cũng không sòm
Phải chỗ thì trông phải chỗ dòm.
Quân tử cũng bao giờ mạnh khoẻ
Thục nhơn đâu giống dạng nhòm nhom.
Nhường đường một bước không chen lấn
Giữ lễ nhiều khi cũng nổi khòm
Ảnh hưởng tinh thần trao xá lợi
Một may đắc quả khoẻ vui mòm.
Trần văn Quảng
Tây cống đề thơ tử vận sòm
Nghĩ ra cái cảnh cháng xem dòm.
Gái chưng dồi mốt thêm dồi phấn
Tiệm bán đủ đồ áo bịch nhom
Dập nẻo dọc ngang chen lấn lướt
Ðầy nơi thưa kiện đứng lòm khòm
Hồng trần dày dạn người say tỉnh
Suy nghĩ đôi canh chợt ngủ mòm.
Phạm đăng Thà
Nầy hởi ai kia chí đã sòm
Ðến đây tôi chỉ chỗ nên dòm
Rừng tre tha thướt cây giao ngọn
Khóm kiển cành thân gốc lộ nhòm.
Chén rượu thất hiền đong chẳng dứt
Cuộc cờ Trần Lão mãi lưng khòm
Thanh nhàn cảnh ấy quanh năm cũng
Thích chí duổi chân một giấc mòm.
Quách văn Nghĩa
GÁI THỦ PHẬN CHỜ LƯƠNG DUYÊN
Xướng
Không làm cho thẹn gái thanh xuân
Thủ hạnh chờ duyên dẫu TấnTần.
Gấm lót đường, chi sờn giá ngọc,
Bông phong nhụy, đợi xứng tùng quân.
Ðề thi hồng điệp xem ngoài vật
Sử phụng cầu loan mới phải phần.
Vốn quí nhà vàng đào thơ thớ,
Chín tầng khuê các hưởng lương nhàn.
Trần văn Quảng
TRUNG HIẾU TUYẾT TRINH
Trung hiếu phận trai món nhiệm mầu
Gái thì tiết hạnh gái để câu.
Nghĩa nhân trải mật đền cha chúa,
Trinh thuận nung gan thấu óc đầu.
Tế khổn vua ơn niềm trọng trách,
Chiêu phu giữ dạ mối phao cầu.
Ðinh ninh một mực sau như trước
Ðối đáp vuông tròn dễ nệ đâu.
Trần văn Quảng
Ngay thảo trai tua giữ đạo mầu
Nết na đoan chánh gái làm đầu.
Xuân thu trịnh trọng coi từ chữ,
Nữ tắc ân cần đọc mỗi câu.
Quân tử non còn in vẻ ngọc
Thuyền quyên song hiệp rạng gương châu.
Nước nhà ước đặng con dâu ấy
Rực rỡ giống nòi hưởng phước lâu.
Xuân Khôi NHM
Ðầu đề: MẸ GIÀ Ở CHỐN LỀU TRANH
HỌA NGUYÊN VẬN
Mẹ già đạm bạc chốn nhà tranh
Sớm tối châm nom dạ hộp đành
Dầu phải túp che vừng tóc trắng
Há lơi thảo đáp nghĩa mày xanh.
Tăng Sâm trọn đạo phong lưu vị
Tử Lộ đòi cơn nhiệt ý thành.
Thục thủy thừa quang nêu đức hoá
Vuông tròn trọng yếu bực phương danh.
Trần văn Quảng
Lụm cụm nhà huyên mái cỏ tranh
Thần hôn dạ trẻ dẫu chưa đành
Ngọt bùi dưới gối vui ngày trắng
Ấm lạnh bên giường nguyện tuổi xanh
Bèo bọt đền bồi công quí hoá
Mảy may báo đáp dức Khôn thành
Ðinh ninh một tấm lòng thương mẹ
Há dám vì đời tiếng hiếu danh.
Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai
CÁC BÀI HỌA KHÁC
Ðại phu chi hậu đáng lần theo
Qua đặng mấy đèo hay mấy đèo
Bát nhã đến vờ cười ngả ngớn
Trần ai không bợn khoẻ rền reo
Vô vi học hỏi gương đà Phật
Minh đức trao tria đạo Khổng Kheo
Tâm quảng thể bàn nuôi lấy chí
Quang minh bình đẳng có chi eo.
Trần văn Quảng
Chính trực vui lòng toại chí theo
Quản chi non núi quản chi đèo
Tiềm đường đạo đức tình thêm mến
Lánh nẽo thị phi mật tiếng reo.
Ðọc sách nhà nho sùng Khổng Thánh
Xem kinh cửa Phật học thiền Kheo
Sân trình gắn gổ tua lần bước
Noi chỗ thẳng bằng tránh chỗ eo
Nguyễn Duy Dương
Xin giới thiệu thêm một thi hữu của Văn đàn, ông Phạm Đăng Đàn, Hội đồng điạ hạt, thuộc chi Phạm Đăng, Thích lý thứ nhì ở xã Tân Niên Tây, có một bài thư về việc phá bỏ tháp Lảnh Binh Huỳnh Công Tấn ở Gò Công, tháng 10 – 1945. Bài thơ không phổ biến trong Văn Đàn vì thời cuộc.
Vinh hiển bao nhiêu, nhục bấy nhiêu
Cơ đồ Lãnh Tấn nhẹ như rều
Tấm thân chết mục nhơ chẳng mục
Núm tháp phá tiêu, hận chẳng tiêu
Bán nước mua danh đời ngạo báng
Quên nòi phản chủ chúng kêu rêu
Hởi ai đấy đấy làm gương đấy
Danh vọng càng nhiều nhục cũng nhiều
Phạm Đăng Đàn (Đoàn)
Ta thấy trước 1945, ở Gò Công ai ai cũng hận tên bán nước Huỳnh Công Tấn, cả những ông Hội đồng từng hợp tác với Tây.
PHAN THANH SẮC
http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=1 Đọc thêm!
Mở đàu nền Văn học học Gò Công đầu tiên là bài Tân Hòa Thắng Cảnh (1890) của ông Chủ sự Hình bộ Triều đình Huế ,Trần Đình Thiều. Ông Chủ sự Thiều là cháu gọi bà Trần Thị Sanh bằng cô ruột. Bài Tân Hòa Thắng Cảnh là bài “phú” bằng chữ Hán ca tụng các danh thắng của huyện Tân Hòa tức Gò Công cũ buổi giao thời Pháp đặt nền mống cai trị đất Nam Kỳ thuộc Pháp. Vì viết bằng Hán Văn nên bài phú nay không ai còn đọc hiểu được dù có âm ra chữ Quốc ngữ Việt. Kẻ ghi những dòng nầy ngậm ngùi cũng đành lưu lại bài phú thành dạng “cổ” nhớ buổi giao thời.
Nữa thế kỷ sau các con cháu của ông Chủ sự Thiều và các văn thi hữu ở Gò Công từ các năm 1940 lập Văn đàn Gò Công làm thơ Đường xướng họa nay thu góp cũng trên mấy trăm bài, cũng chỉ để làm kỷ niệm, ai biết ai hay?
Nay mở đầu trang văn học cũ, xin giới thiệu một bài thơ của một thi hữu Gò Công Văn đàn:
TẠ BẠN LÀNG VĂN
Thanh Trúc, Gò Công cánh nhạn liền,
Kể từ Văn tự kết nên duyên;
Nước mây ngàn dậm tình bầu bí,
Son sắt một lòng nợ bút nghiên;
Trí não dày công bồi dưỡng lẫn,
Tinh thần nặng mối cảm hoài riêng;
Cùng nhau những ước khi tương hội,
Dưới nguyệt trên hồ thưởng vị sen
NGUYỄN HUỲNH MAI
(1899 – 1972)
Đọc bài thơ thấy hương thoảng xa xưa như các bài thơ của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị. Văn Đàn Gò Công 1940 gồm những bài thơ như thế. Tập hợp rồi in, nghĩ có ai đọc chăng? Người Gò Công thời nay chắc chỉ nhớ có Gò Công Văn Đàn để tự hào! Làm sao đọc hiểu hết được những bài thơ của Văn Đàn vì mỗi bài thơ xuất phát từ một hoàn cảnh cụ thể của thời đó. Sự giao tiếp của thi hữu với nhau trong cảnh riêng mà thành tình nên thơ. Như bài thơ Đường trên ông Nguyễn Huỳnh Mai họa lại một bài thơ của thi hữu ở xa. Ông Nguyễn Huỳnh Mai là nhà nho, nhà giáo tân học, nhà thơ, nhà văn Gò Công có ngoại tổ là anh ruột ông Chủ sự Thiều, ông kết bạn chi lan với nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Pháp ở Thanh Trúc, Hà Tiên và làm thơ thù tạc, kẻ hậu sinh làm sao biết.
Và các bài thơ của Gò Công Văn Đàn 1940 trôi vào dĩ vãng.
Từ trang nầy người viết muốn ghi lại chuyện xưa trân trọng vậy!
PHAN THANH SẮC
VẠCH BÓNG NGƯỜI XƯA
VĂN HOÁ CHỮ NGHĨA THƠ VĂN
GÒ CÔNG VĂN ĐÀN - 1940
Nữ thi sĩ Manh Manh và nhà văn Hồ Biểu Chánh là những người gốc Gò Công có những đóng góp văn hoá cho cả đất nước. Giới văn học đương thời ngưỡng phục và hiện đại còn đánh giá cao. Sự nghiệp văn chương của hai người lưu trong văn học sử, Gò Công cũng hãnh diện.
Ngoài ra cũng còn những nguời địa phương vững nền tản nho học, thêm hấp thụ giáo dục Tây phương, lúc nhàn công việc hay hết công vụ về hưu, làm thơ và cùng nhau xướng hoạ. Rồi do vài vị xướng thành phong trào qui tụ được nhiều người, thành lập thành văn đàn lấy tên là Văn đàn Gò Công trong những năm cuối 1930 và đầu các năm 1940.
Mục đích của Văn đàn là kết bạn bè đồng chí hướng cùng nhau hưởng thú văn chương, mỗi tháng họp nhau một lần, thưởng thức hương trà, ngâm vịnh thư phú, cùng xướng hoạ thơ Đường. Các thi hữu ở quanh vùng và các tỉnh lân cận nghe tiếng rủ nhau đến giao du, trao đổi thi văn rất hào hứng.
Những vị gầy dựng văn đàn được biết như:
Ông Trần văn Quảng (1876-1944), Hội đồng Địa hạt Gò Công, cháu cố ông Trần văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng. Bà Phụng là cô ruột Đức Thái hoàng thái hậu Từ Dũ. Ông Hội đồng Quảng gọi bà Trần Thị Sanh bằng bà sáu, gọi ông Hình bộ Chủ sự Trần Đình Thiều là chú ruột, thuộc nếp thư hương, nên làm thơ phú rất đạt, các bạn thơ nể trọng mời làm chủ Văn đàn. Ông còn lưu lại vài thi tập, hiện do người con gái là Cô giáo Trần Thành Mỹ dạy Trung Học Gò Công hiện sống ở Belgium giữ.
Các thi hữu tích cực ở Văn đàn được biết như các ông Nguyễn Duy Dương, Dương văn Lời, Lê Bằng Ý, Thái Hoà, Quách văn Nghĩa, Phạm Đăng Thà, Thiên Kim Nguyễn văn Thắng, Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai, Trần văn Năng, Nguyễn Khánh Sở, Minh Hưng, Bà giáo Võ Kim Quyện v.v.
Ông Nguyễn Duy Dương có nhà cửa rộng rãi khang trang tại chợ Gò Công, dùng nơi hội hợp văn đàn.
Ông Dương văn Lời là một hào phú trước 1945 ở tại ngôi nhà lớn ngó qua rạp hát. Ông Lời đậu bằng Diplôme, làm hương chức hội tề làng Thành Phố, đến 1945 là hương cả. Khi Pháp trở lại Gò Công tháng 10-1945 ông bị nạn. Ông được biết là người nói tiếng Pháp rất giỏi, thuộc những từ chánh trong cuốn Từ điển Larousse đồ sộ tiếng Pháp.
Ông Lê Bằng Ý là Chánh án Toà Hoà Giải Gò Công, nhà ở sau Dinh Tỉnh trưởng.
Các ông Nguyễn Huỳnh Mai, Nguyễn văn Thắng, Nguyễn Khánh Sở, cô Võ Kim Quyện ông Trần văn Năng là các giáo học của Trường Quan tức Trường Nam Tiểu học Gò Công.
Ông Quách văn Nghĩa là điền chủ Đồng Sơn là rể lớn thứ ba của ông Trần văn Quảng, thường xuống chợ Gò Công họp Văn đàn.
Ông Phạm Đăng Thà là Hội đồng địa hạt, người Vĩnh Lợi, là cha của Tiến sĩ Phạm Đăng Thuật các năm trước 1970 có làm Tổng Giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân Học vụ Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn. Ông Hội đồng Thà kết nghĩa suôi cơ với ông Hội đồng Quảng, nhưng sau 1945 không thành.
PHAN THANH SẮC
TRÍCH NHỮNG BÀI XƯỚNG HỌA
CỦA HỘI TAO ÐÀN GÒCÔNG
Ðề tài: THI HỮU ÐỒNG TÂM
Kim Lan đầm thấm khí thanh đồng,
Son đỏ chưa đầy sắc đỏ không.
Thủ thiện chập chồng ân thuận võ,
Phụ nhơn thâm thía nghĩa hòa phong.
Tuy không đờn sáo mà vui chí,
Vẫn có văn chương đủ thưởng lòng.
Vội vã lộn giày mừng rước bạn,
Trọng vì tài đức nửa giao long.
Trần văn Quảng
Phỉ nguyền gặp lại bạn tâm đồng,
Sớm hỏi cố nhân phải nợ không?
Bủa đức ra nhơn nhuần thoại võ,
Tiềm hiền nhóm sĩ luận thuần phong.
Câu văn thâm thúy xem vui dạ,
Ðiệu phú thanh tao đọc thỏa lòng.
Xóc áo chưa rồi toan tiếp khách,
Trọng tài khởi phụng với đằng long.
Lê Bằng Ý
KHÓC QUAN HOÀI QUỐC CÔNG VÕ TÁNH
Người đã chết tiếng còn thanh
Võ Tánh đây là bực Vĩ Anh.
Giúp nước ngày lo đầy sáu khắc,
Phò vua đêm liệu trót năm canh.
Sống thời làm tướng phơi gan mật,
Thác lại hiển thần rạng chí linh.
Trăm trận tử sanh nào có nại,
Trước sau vẹn giữ tấm trung thành.
Dương văn Lời
Lửa hồng soi rạng khấp thiên thanh,
Sánh với lòng son bực tuấn anh.
Khẳn khái thờ vua lầu tám góc,
Cần cù giữ giặc trống năm canh.
Thí xe thắng nước cờ huyền bí,
Ðổi ngói lải vàng trí diệu linh.
Bia tháp cánh tiên trường qquốc sử,
Ngàn năm tạc để tiết trung thành.
Nguyễn Huỳnh Mai
CẢNH AO SEN
Rỡ rỡ sen buông nực những hương,
Dẩy đầy thanh tịnh cảnh hồ gương.
Gấm thêu trắng đỏ hoa quân tử,
Chất sạch sẵn nhờ nước tuyết sương.
Phảng phất gật đầu cười giởn gió,
Thung dung chặng mặt bóng chào gương.
Chữ nhàn mua mắc bao nhiêu cũng
Với bức đồ thơ hộp một trường.
Trần văn Quảng
Một cảnh ao sen nực mùi hương,
Bạch liên rỡ rỡ sáng như gương.
Thành cao gió tịnh sanh thêm ngó,
Nước bích đông đơm hướng lấy sương.
Nhạn trắng đậu xen nơi diệu xứ,
Ðêm thâm khó nhận thuở tà dương.
Yêm điềm thanh cảnh đầy phong thủy,
Cẩm tú giang san gẩm một trường.
Phạm đăng Thà
Tựa: ÐỀ TẶNG QUAN LỤC SỰ LÊ BẰNG Ý
Cốt cách như ông có mấy ai.
Làm quan thanh bạchcũng anh tài.
Ân nhà chan chứa ân ba gội,
Lộc phước dồi dào lộc phước dày.
Ðen đỏ sắc tình người sở thích
Ðá vàng lòng, thẻ bạc hằng ghi.
Mặt xanh một mực không xem trắng
Phương viện làm gương hướng đạo đài.
Trần văn Quảng
Ðạo vị trên đời gẫm ít ai
Khen ông mến đức chuộng nhơn tài.
Ðôi lời vàng đá ân tình nặng
Một bức trân châu phẩm giá dày.
Gà nếp sắc son bia tạc để
Cầm thơ duyên nợ sách còn ghi.
Thỏa lòng gặp gở người tri kỷ
Gió thuận đẩy đưa gió Tước-Ðài.
Lê Bằng Ý
SAIGON CẢNH CŨ
Xướng
Saigon sớm tối vẫn om sòm,
Ngán chỗ phồn hoa mắt biến dòm.
Nữ tú áo dài đi lượt bược
Nam thanh quần cụt nhắc cà nhom.
Cùng đường quan lộ người chen lấn,
Các ngõ công môn kẻ đứng khòm .
Mệt bấy tưởng đời danh với lợi,
Ðau bằng thi hữu thích say mòm.
Họa
Cũng không om cũng không sòm
Phải chỗ thì trông phải chỗ dòm.
Quân tử cũng bao giờ mạnh khoẻ
Thục nhơn đâu giống dạng nhòm nhom.
Nhường đường một bước không chen lấn
Giữ lễ nhiều khi cũng nổi khòm
Ảnh hưởng tinh thần trao xá lợi
Một may đắc quả khoẻ vui mòm.
Trần văn Quảng
Tây cống đề thơ tử vận sòm
Nghĩ ra cái cảnh cháng xem dòm.
Gái chưng dồi mốt thêm dồi phấn
Tiệm bán đủ đồ áo bịch nhom
Dập nẻo dọc ngang chen lấn lướt
Ðầy nơi thưa kiện đứng lòm khòm
Hồng trần dày dạn người say tỉnh
Suy nghĩ đôi canh chợt ngủ mòm.
Phạm đăng Thà
Nầy hởi ai kia chí đã sòm
Ðến đây tôi chỉ chỗ nên dòm
Rừng tre tha thướt cây giao ngọn
Khóm kiển cành thân gốc lộ nhòm.
Chén rượu thất hiền đong chẳng dứt
Cuộc cờ Trần Lão mãi lưng khòm
Thanh nhàn cảnh ấy quanh năm cũng
Thích chí duổi chân một giấc mòm.
Quách văn Nghĩa
GÁI THỦ PHẬN CHỜ LƯƠNG DUYÊN
Xướng
Không làm cho thẹn gái thanh xuân
Thủ hạnh chờ duyên dẫu TấnTần.
Gấm lót đường, chi sờn giá ngọc,
Bông phong nhụy, đợi xứng tùng quân.
Ðề thi hồng điệp xem ngoài vật
Sử phụng cầu loan mới phải phần.
Vốn quí nhà vàng đào thơ thớ,
Chín tầng khuê các hưởng lương nhàn.
Trần văn Quảng
TRUNG HIẾU TUYẾT TRINH
Trung hiếu phận trai món nhiệm mầu
Gái thì tiết hạnh gái để câu.
Nghĩa nhân trải mật đền cha chúa,
Trinh thuận nung gan thấu óc đầu.
Tế khổn vua ơn niềm trọng trách,
Chiêu phu giữ dạ mối phao cầu.
Ðinh ninh một mực sau như trước
Ðối đáp vuông tròn dễ nệ đâu.
Trần văn Quảng
Ngay thảo trai tua giữ đạo mầu
Nết na đoan chánh gái làm đầu.
Xuân thu trịnh trọng coi từ chữ,
Nữ tắc ân cần đọc mỗi câu.
Quân tử non còn in vẻ ngọc
Thuyền quyên song hiệp rạng gương châu.
Nước nhà ước đặng con dâu ấy
Rực rỡ giống nòi hưởng phước lâu.
Xuân Khôi NHM
Ðầu đề: MẸ GIÀ Ở CHỐN LỀU TRANH
HỌA NGUYÊN VẬN
Mẹ già đạm bạc chốn nhà tranh
Sớm tối châm nom dạ hộp đành
Dầu phải túp che vừng tóc trắng
Há lơi thảo đáp nghĩa mày xanh.
Tăng Sâm trọn đạo phong lưu vị
Tử Lộ đòi cơn nhiệt ý thành.
Thục thủy thừa quang nêu đức hoá
Vuông tròn trọng yếu bực phương danh.
Trần văn Quảng
Lụm cụm nhà huyên mái cỏ tranh
Thần hôn dạ trẻ dẫu chưa đành
Ngọt bùi dưới gối vui ngày trắng
Ấm lạnh bên giường nguyện tuổi xanh
Bèo bọt đền bồi công quí hoá
Mảy may báo đáp dức Khôn thành
Ðinh ninh một tấm lòng thương mẹ
Há dám vì đời tiếng hiếu danh.
Xuân Khôi Nguyễn Huỳnh Mai
CÁC BÀI HỌA KHÁC
Ðại phu chi hậu đáng lần theo
Qua đặng mấy đèo hay mấy đèo
Bát nhã đến vờ cười ngả ngớn
Trần ai không bợn khoẻ rền reo
Vô vi học hỏi gương đà Phật
Minh đức trao tria đạo Khổng Kheo
Tâm quảng thể bàn nuôi lấy chí
Quang minh bình đẳng có chi eo.
Trần văn Quảng
Chính trực vui lòng toại chí theo
Quản chi non núi quản chi đèo
Tiềm đường đạo đức tình thêm mến
Lánh nẽo thị phi mật tiếng reo.
Ðọc sách nhà nho sùng Khổng Thánh
Xem kinh cửa Phật học thiền Kheo
Sân trình gắn gổ tua lần bước
Noi chỗ thẳng bằng tránh chỗ eo
Nguyễn Duy Dương
Xin giới thiệu thêm một thi hữu của Văn đàn, ông Phạm Đăng Đàn, Hội đồng điạ hạt, thuộc chi Phạm Đăng, Thích lý thứ nhì ở xã Tân Niên Tây, có một bài thư về việc phá bỏ tháp Lảnh Binh Huỳnh Công Tấn ở Gò Công, tháng 10 – 1945. Bài thơ không phổ biến trong Văn Đàn vì thời cuộc.
Vinh hiển bao nhiêu, nhục bấy nhiêu
Cơ đồ Lãnh Tấn nhẹ như rều
Tấm thân chết mục nhơ chẳng mục
Núm tháp phá tiêu, hận chẳng tiêu
Bán nước mua danh đời ngạo báng
Quên nòi phản chủ chúng kêu rêu
Hởi ai đấy đấy làm gương đấy
Danh vọng càng nhiều nhục cũng nhiều
Phạm Đăng Đàn (Đoàn)
Ta thấy trước 1945, ở Gò Công ai ai cũng hận tên bán nước Huỳnh Công Tấn, cả những ông Hội đồng từng hợp tác với Tây.
PHAN THANH SẮC
http://edu.net.vn/forums/t/55868.aspx?PageIndex=1 Đọc thêm!


Ghi chú:
Bà Trần Thị Sanh là con gái của ông Trần Văn Đồ (1780-1860) và bà Phạm Thị Phụng (1782-1879), em gái Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng (1765-1825)
Phả đồ Gia Tộc Ông Trần Văn Đồ
MỘT ANH THƯ ĐẤT GÒ CÔNG CHƯA ĐƯỢC TÔN VINH
Sau Tết Mậu Thân 1968, tỉnh Gò Công đã rúng động với tin truyền về sự hiển linh của Đức Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Định. Ngài đã hiện ra giữa tiếng súng nổ đạn rơi với áo bào khăn trắng, râu bạc dài cưỡi bạch mã, oai phong lẫm liệt, phi ngựa hươi kiếm chói ngời hào quang. Không biết thực hư ra sao nhưng cũng từ đấy công cuộc trùng tu ngôi mộ, xây lăng Ngài được tiến hành và thực hiện nhanh hơn. Toàn dân sùng kính nhớ ơn Trương Định, người có công chống ngoại xâm, nặng lòng cố quốc...Ông đích thực là anh hùng – không chỉ là anh hùng của riêng người Kinh mà là anh hùng Đất Việt. Hơn thế nữa, sau 1975, chính quyền lại đúc tượng ghi ơn Trương Định tại trung tâm thị xã Gò Công, không xa lăng lắm.
Người Việt không chỉ biết ghi ơn con người mà còn ghi công loài vật (như vua Gia Long còn lập miểu thờ cá Ông ở Vám Láng để tỏ lòng nhớ ơn cứu tử của cá voi đối với mình); thế mà chúng ta, nhất là người dân địa phương, lẽ nào lại quên bà Trần Thị Sanh - vị ân nhân đã hy sinh giúp Trương Định làm nên đại nghĩa !?.
Có lẽ phong tục tập quán trọng nam khinh nữ, coi nặng vợ chính và coi nhẹ vợ thứ,... cũng dự phần vào thực trạng này. Ngay cả danh tính của các bà, mẹ, vợ của các bậc anh hùng cũng chưa được ghi nhớ chính xác, chưa được nêu lên một cách trang trọng, ở đây, bà Trần Thị Sanh, còn nhiều tài liệu vẫn ghi với miệt danh là bà...hầu (1). Có những nhà viết sử vì nhiều lý do (nhất là có thể thiếu nguồn tin) nên đã tường thuật sự kiện theo lăng kính nhìn riêng, phê phán không thật chính xác, thậm chí thiên lệch về bà. Nhưng bà là ai ?
***
Bà Trần Thị Sanh, vợ thứ của Trương Định, là bà con cô cậu ruột với Thái Hoàng Hậu Từ Dũ, là chị của ông Tú Hội. Chồng chết, ba năm sau bà tái giá với Trương Định và chung thủy theo ông chống xâm lược mà không ngại thị phi. Trương phu nhân không chỉ chủ động và kiên quyết đi theo sự nghiệp chống Pháp của chồng mà còn ủng hộ ‘loạn quân’ Trương Định bằng cách hiến cả tài sãn để giúp chồng nuôi quân. Bà luôn hậu thuẫn cho “giặc” dù biết giúp cho “quân kháng chiến” chống Pháp là tội chết.
Khi Trương Định tuẫn tiết, giặc Pháp đem ông về phơi tại chợ để đe dọa tinh thần nhân dân Gò Công, bà đã công khai đưa chồng về an táng ngay trên đất nhà tại trung tâm thành phố Gò Công. Hành động của Trương phu nhân không chỉ là sư quý yêu nặng nghĩa tình phu phụ với người vừa nằm xuống mà còn là sự tôn vinh mang tính thách thức thực dân, làm sáng tỏ lý tưởng yêu đất nước trọng anh hùng của dân Việt và lưu dấu di tích lịch sử cho thế hệ mai sau.
Sự lẫm liệt của quả phụ Trần Thị Sanh khi đưa xác ông Trương về mai táng trọng thể, dựng lăng và lập bia cho chồng,...không chỉ tràn đầy chí khí anh thư, thể hiện lòng yêu nước vô biên mà còn là việc làm thật thức thời để an định nhân tâm cho “kháng chiến quân” lúc bấy giờ.
Là góa phụ tái giá làm vợ thứ, việc làm của bà Sanh là một trong nhưng tấm gương thuỷ chung của người đàn bà Việt Nam, góp phần đả phá thói cũ hủ tục, xây mầm móng cải cách xã hội đương thời, khơi ngòi phong trào giải phóng phụ nữ.
Những việc làm của bà Sanh còn nêu lên mối tương đồng trong nghĩa vụ, bổn phận của người dân đối với Tổ quốc, quê hương, gia đình mà không phân biệt giai cấp, tuổi tác, gái trai - nhất với nữ giới Đất Việt anh hùng - “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; vì vậy, tấm gương của bậc anh thư Trần Thị Sanh cần được nêu gương một cách rộng rãi. Rất may, nguồn thông tin về bà và gia tộc của bà vẫn được lưu giữ ở nhiều người Gò Công.
Với thực trạng và thuận lợi nói trên, kính đề nghị:
1. Giới văn nghệ Gò Công: Sáng tác và biểu diễn (vọng cổ, kịch, lý...) về tích “Bà Trần Thị Sanh” (như: dựng lại cảnh Trần phu nhân đưa chồng về an táng,...). Giáo dục thái độ kiên cường bất khuất của phụ nữ Đất Việt.
2. Giới Nghiên cứu Lịch sử và Hội Liên hiệp phụ nữ Gò Công: Phối hợp với gia tộc họ Trần và hậu duệ của bà Sanh để tổ chức Hội thảo khoa học và triển lãm về bà.
3. Phòng Giáo dục thị xã Gồ Công: giới thiệu gương anh thư của bà Trần Thị Sanh trong chương trình danh nhân lịch sử địa phương – theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục.
4. UBND thị xã Gò Công: Lập tên đường Trần Thị Sanh ở thị xã Gò Công (nếu được lập thành ngã ba hoặc ngã tư với đường Trương Định thì càng có ý nghĩa sâu sắc hơn).
Trần Thành Mỹ Đọc thêm!
Sau Tết Mậu Thân 1968, tỉnh Gò Công đã rúng động với tin truyền về sự hiển linh của Đức Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Định. Ngài đã hiện ra giữa tiếng súng nổ đạn rơi với áo bào khăn trắng, râu bạc dài cưỡi bạch mã, oai phong lẫm liệt, phi ngựa hươi kiếm chói ngời hào quang. Không biết thực hư ra sao nhưng cũng từ đấy công cuộc trùng tu ngôi mộ, xây lăng Ngài được tiến hành và thực hiện nhanh hơn. Toàn dân sùng kính nhớ ơn Trương Định, người có công chống ngoại xâm, nặng lòng cố quốc...Ông đích thực là anh hùng – không chỉ là anh hùng của riêng người Kinh mà là anh hùng Đất Việt. Hơn thế nữa, sau 1975, chính quyền lại đúc tượng ghi ơn Trương Định tại trung tâm thị xã Gò Công, không xa lăng lắm.
Người Việt không chỉ biết ghi ơn con người mà còn ghi công loài vật (như vua Gia Long còn lập miểu thờ cá Ông ở Vám Láng để tỏ lòng nhớ ơn cứu tử của cá voi đối với mình); thế mà chúng ta, nhất là người dân địa phương, lẽ nào lại quên bà Trần Thị Sanh - vị ân nhân đã hy sinh giúp Trương Định làm nên đại nghĩa !?.
Có lẽ phong tục tập quán trọng nam khinh nữ, coi nặng vợ chính và coi nhẹ vợ thứ,... cũng dự phần vào thực trạng này. Ngay cả danh tính của các bà, mẹ, vợ của các bậc anh hùng cũng chưa được ghi nhớ chính xác, chưa được nêu lên một cách trang trọng, ở đây, bà Trần Thị Sanh, còn nhiều tài liệu vẫn ghi với miệt danh là bà...hầu (1). Có những nhà viết sử vì nhiều lý do (nhất là có thể thiếu nguồn tin) nên đã tường thuật sự kiện theo lăng kính nhìn riêng, phê phán không thật chính xác, thậm chí thiên lệch về bà. Nhưng bà là ai ?
***
Bà Trần Thị Sanh, vợ thứ của Trương Định, là bà con cô cậu ruột với Thái Hoàng Hậu Từ Dũ, là chị của ông Tú Hội. Chồng chết, ba năm sau bà tái giá với Trương Định và chung thủy theo ông chống xâm lược mà không ngại thị phi. Trương phu nhân không chỉ chủ động và kiên quyết đi theo sự nghiệp chống Pháp của chồng mà còn ủng hộ ‘loạn quân’ Trương Định bằng cách hiến cả tài sãn để giúp chồng nuôi quân. Bà luôn hậu thuẫn cho “giặc” dù biết giúp cho “quân kháng chiến” chống Pháp là tội chết.
Khi Trương Định tuẫn tiết, giặc Pháp đem ông về phơi tại chợ để đe dọa tinh thần nhân dân Gò Công, bà đã công khai đưa chồng về an táng ngay trên đất nhà tại trung tâm thành phố Gò Công. Hành động của Trương phu nhân không chỉ là sư quý yêu nặng nghĩa tình phu phụ với người vừa nằm xuống mà còn là sự tôn vinh mang tính thách thức thực dân, làm sáng tỏ lý tưởng yêu đất nước trọng anh hùng của dân Việt và lưu dấu di tích lịch sử cho thế hệ mai sau.
Sự lẫm liệt của quả phụ Trần Thị Sanh khi đưa xác ông Trương về mai táng trọng thể, dựng lăng và lập bia cho chồng,...không chỉ tràn đầy chí khí anh thư, thể hiện lòng yêu nước vô biên mà còn là việc làm thật thức thời để an định nhân tâm cho “kháng chiến quân” lúc bấy giờ.
Là góa phụ tái giá làm vợ thứ, việc làm của bà Sanh là một trong nhưng tấm gương thuỷ chung của người đàn bà Việt Nam, góp phần đả phá thói cũ hủ tục, xây mầm móng cải cách xã hội đương thời, khơi ngòi phong trào giải phóng phụ nữ.
Những việc làm của bà Sanh còn nêu lên mối tương đồng trong nghĩa vụ, bổn phận của người dân đối với Tổ quốc, quê hương, gia đình mà không phân biệt giai cấp, tuổi tác, gái trai - nhất với nữ giới Đất Việt anh hùng - “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; vì vậy, tấm gương của bậc anh thư Trần Thị Sanh cần được nêu gương một cách rộng rãi. Rất may, nguồn thông tin về bà và gia tộc của bà vẫn được lưu giữ ở nhiều người Gò Công.
Với thực trạng và thuận lợi nói trên, kính đề nghị:
1. Giới văn nghệ Gò Công: Sáng tác và biểu diễn (vọng cổ, kịch, lý...) về tích “Bà Trần Thị Sanh” (như: dựng lại cảnh Trần phu nhân đưa chồng về an táng,...). Giáo dục thái độ kiên cường bất khuất của phụ nữ Đất Việt.
2. Giới Nghiên cứu Lịch sử và Hội Liên hiệp phụ nữ Gò Công: Phối hợp với gia tộc họ Trần và hậu duệ của bà Sanh để tổ chức Hội thảo khoa học và triển lãm về bà.
3. Phòng Giáo dục thị xã Gồ Công: giới thiệu gương anh thư của bà Trần Thị Sanh trong chương trình danh nhân lịch sử địa phương – theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục.
4. UBND thị xã Gò Công: Lập tên đường Trần Thị Sanh ở thị xã Gò Công (nếu được lập thành ngã ba hoặc ngã tư với đường Trương Định thì càng có ý nghĩa sâu sắc hơn).
Trần Thành Mỹ Đọc thêm!

HỌA SĨ PHẠM ĐĂNG TRÍ
Giới thiệu cố Họa sĩ Phạm Đăng Trí, hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam.
Sinh năm 1921 tại Huế
Nguyên quán Gò Công
Cựu sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương - Hà Nội (1937 - 1942).
Nguyên:
- Giáo viên hội họa trường trung học Thuận Hóa Huế (1945 - 1946) và trường trung học Bồ Đề Huế (1955 - 1962).
- Giảng viên trường Cao đẳng Mỹ Thuật Huế (1963 - 1987).
- Ủy viên Ủy Ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam Bình Trị Thiên.
- Ủy viên Ban thư ký Phân hội Mỹ Thuật Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ thuật Bình Trị Thiên.
- Hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam.
- Mất năm 1987 tại Huế.
Người suối bạc Giấy dó (54 x 100 cm) 1945.
Mẫu đơn trang Lụa (56 x 72 cm) 1982
Sâu lắng Lụa (53 x 74 cm) 1985.
http://voque.org/index.php?option=com_content&task=view&id=621&Itemid=28
SÁCH Y HỌC
GIẢI PHẪU NGỰC-BỤNG
(Bìa Cứng)
PHẠM ĐĂNG DIỆU (Tác giả)
ISBN: 104140
Xuất bản: 8/2003
Trọng lượng: 650 gr
NXB: Y học
Số Trang: 483 Trang-Kích thước 14x20
Giá bán: 70,000 đ
Trong khuôn khổ loạt sách giải phẫu có minh họa trực tiếp bằng hình, sau hai cuốn Giải phẫu chi trên - chi dưới, Giải phẫu đầu - mặt - cổ, cuốn sách Giải Phẫu Ngực - Bụng đã được ấn hành. Cuốn sách gồm 18 chương, trình bày theo vùng và định khu. Hình thức trình bày cũng thống nhất với các cuốn sách cùng bộ, nghĩa là các khía cạnh của kiến thức giải phẫu từng cấu trúc sẽ được minh họa bằng một hình vẽ ở trang chẵn, còn ở trang lẻ là phần giải thích bằng lời. Phần ghi chú ở cuối trang giải thích được để trống dành sẵn cho người đọc tự mình bổ sung những chú ý, những kiến thức thu nhận thêm từ các nguồn tài liệu hoặc nghe giảng để cuốn sách này có thể trở thành một công cụ của chính người đọc. Trong tài liệu này cũng có thêm một số thông tin liên quan đến thực hành và đặc biệt ở những cơ quan có sự phát triển phức tạp, có nhiều khả năng bất thường bẩm sinh phôi thai để bạn đọc dễ dàng hình dung và liên hệ.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
ATLAS GIẢI PHẪU NGƯỜI
(Bìa Cứng)
Frank H. Netter, MD (Tác giả), Cố GS. BS. Nguyễn Quang Quyền - TS. BS. Phạm Đăng Diệu (Dịch)
ISBN: 103864
Xuất bản: 9/2008
Trọng lượng: 2550 gr
NXB: Y học
Số Trang: 618 trang - Khổ: 22x29 cm
Giá bán: 360,000 đ
Trích Lời nói đầu.
Cuốn sách này được cố GS. TS. Nguyễn Quang Quyền và TS. BS. Phạm Đăng Diệu dịch và biên soạn sang tiếng Việt có thêm phần thuật ngữ đối chiếu Việt - Anh và Anh - Việt, do đó cuốn sách có thể coi như một cuốn tự điển Giải phẫu học Việt - Anh và Anh - Việt theo danh pháp Quốc tế (N.A) kết hợp với cuốn Atlas để minh họa.
GIẢN YẾU GIẢI PHẪU NGƯỜI
Nguyễn Quang Quyền(Tác giả), Phạm Đăng Diệu (Đồng tác giả), Nguyễn Văn Đức (Đồng tác giả),Nguyễn Văn Cường (Đồng tác giả)
ISBN: 61542
Xuất bản: 8/2001
Trọng lượng: gr
NXB: Y học
Số Trang: 476 Trang-Kích thước 15x21
Giá bán: 55,000 đ
Giải phẩu người là một môn y học cơ sở khó học và khó nhớ nhưng lại rất cần thiết để làm cơ sở cho các môn y học khác. Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài liệu học tập cho các học viên của Trường Đại học Y, các trường Trung học Y tế cũng như việc tự ôn luyện thường xuyên của các Y, Bác sĩ ... Cuốn Giản Yếu Giải Phẩu Người đã được biên soạn.
Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuốn Giải Phẩu Học Giản Yếu đã được NXB Y Học ấn hành và tái bản nhiều lần, cùng thực tiễn giảng dạy trên 10 năm của tác giả.
Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.
http://minhkhai.vn/store/index.aspx?q=view&isbn=61542 Đọc thêm!
GIẢI PHẪU NGỰC-BỤNG
(Bìa Cứng)
PHẠM ĐĂNG DIỆU (Tác giả)
ISBN: 104140
Xuất bản: 8/2003
Trọng lượng: 650 gr
NXB: Y học
Số Trang: 483 Trang-Kích thước 14x20
Giá bán: 70,000 đ
Trong khuôn khổ loạt sách giải phẫu có minh họa trực tiếp bằng hình, sau hai cuốn Giải phẫu chi trên - chi dưới, Giải phẫu đầu - mặt - cổ, cuốn sách Giải Phẫu Ngực - Bụng đã được ấn hành. Cuốn sách gồm 18 chương, trình bày theo vùng và định khu. Hình thức trình bày cũng thống nhất với các cuốn sách cùng bộ, nghĩa là các khía cạnh của kiến thức giải phẫu từng cấu trúc sẽ được minh họa bằng một hình vẽ ở trang chẵn, còn ở trang lẻ là phần giải thích bằng lời. Phần ghi chú ở cuối trang giải thích được để trống dành sẵn cho người đọc tự mình bổ sung những chú ý, những kiến thức thu nhận thêm từ các nguồn tài liệu hoặc nghe giảng để cuốn sách này có thể trở thành một công cụ của chính người đọc. Trong tài liệu này cũng có thêm một số thông tin liên quan đến thực hành và đặc biệt ở những cơ quan có sự phát triển phức tạp, có nhiều khả năng bất thường bẩm sinh phôi thai để bạn đọc dễ dàng hình dung và liên hệ.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
ATLAS GIẢI PHẪU NGƯỜI
(Bìa Cứng)
Frank H. Netter, MD (Tác giả), Cố GS. BS. Nguyễn Quang Quyền - TS. BS. Phạm Đăng Diệu (Dịch)
ISBN: 103864
Xuất bản: 9/2008
Trọng lượng: 2550 gr
NXB: Y học
Số Trang: 618 trang - Khổ: 22x29 cm
Giá bán: 360,000 đ
Ấn bản lần thứ 4 cuốn Atlas Giải phẫu người của Frank H. Netter đã được cập nhật bởi đội ngũ cố vấn biên tập của Jenifier K. Brueckner, Stephen W. Carmichiael, Thomas R. Gest, Noelle A. Granger, John T. Hansen và Anil H. Walji. Chúng tôi đã rà soát, sửa đổi và cập nhật từng phần một của cuốn sách. Trong cuốn sách này, những hình ảnh X-quang, hình chụp cắt lớp điện toán, mạch đồ cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ được bổ sung, điều đó phản ánh tầm quan trọng của hình ảnh học chẩn đoán đối với sự liên quan giải phẫu chính xác hơn, 290 trang hình được chú thích lại và có thêm 17 trang hoàn toàn mới. Những chế tác nghệ thuật tuyệt vời cho ấn bản này đã được sáng tác bởi bác sĩ Carlos A.G. Machado, người đã tham gia vào các minh họa của Netter hơn mười năm. Thuật ngữ giải phẫu, các thuật ngữ lâm sàng cũng được cập nhật mới nhất và tên riêng thường được sử dụng cũng được thêm. Thiên tài thể hiện trong các bức vẽ của Netter là ở chỗ Giải phẫu học được khắc họa một cách rõ nét, chân thực và có thể liên hệ được với lâm sàng mà vẫn giữ được cân bằng giữa sự phức tạp và tối giản.
Trích Lời nói đầu.
Cuốn sách này được cố GS. TS. Nguyễn Quang Quyền và TS. BS. Phạm Đăng Diệu dịch và biên soạn sang tiếng Việt có thêm phần thuật ngữ đối chiếu Việt - Anh và Anh - Việt, do đó cuốn sách có thể coi như một cuốn tự điển Giải phẫu học Việt - Anh và Anh - Việt theo danh pháp Quốc tế (N.A) kết hợp với cuốn Atlas để minh họa.
GIẢN YẾU GIẢI PHẪU NGƯỜI
Nguyễn Quang Quyền(Tác giả), Phạm Đăng Diệu (Đồng tác giả), Nguyễn Văn Đức (Đồng tác giả),Nguyễn Văn Cường (Đồng tác giả)
ISBN: 61542
Xuất bản: 8/2001
Trọng lượng: gr
NXB: Y học
Số Trang: 476 Trang-Kích thước 15x21
Giá bán: 55,000 đ
Giải phẩu người là một môn y học cơ sở khó học và khó nhớ nhưng lại rất cần thiết để làm cơ sở cho các môn y học khác. Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài liệu học tập cho các học viên của Trường Đại học Y, các trường Trung học Y tế cũng như việc tự ôn luyện thường xuyên của các Y, Bác sĩ ... Cuốn Giản Yếu Giải Phẩu Người đã được biên soạn.
Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuốn Giải Phẩu Học Giản Yếu đã được NXB Y Học ấn hành và tái bản nhiều lần, cùng thực tiễn giảng dạy trên 10 năm của tác giả.
Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.
http://minhkhai.vn/store/index.aspx?q=view&isbn=61542 Đọc thêm!

















































