NHÀ CỦA ĐỐC HỌC TỈNH GÒ CÔNG
Go Cong: Habitation du Directeur des écoles de la Province
MÔ TẢ
Xuất xứ: Tập ảnh Gò Công (10 ảnh) trích từ nhà Photo – Nadal. Sài Gòn các năm đầu 1940.
Vị trí: Nhà của Đốc học tỉnh Gò Công nhìn từ ngã tư đường Cầu Quan và đường dọc bờ Bắc của Kinh Salicetti. Từ trước năm 1943, khi từ bên phía Nhà Bà Phước qua Cầu Quan, gặp con đường phía Bắc bờ Kinh, đứng lại, nhìn bên trái thì thấy Trường Quan, nhìn bên phải sẽ thấy nhà Đốc học. Tòa nhà nầy Tây cất sau khi Tây cho sửa ngôi lầu hình chữ thập “thành Săn đá” làm ngôi trường dạy chữ Quốc ngữ và chữ Tây đầu tiên của vùng Gò Công lối các năm đầu 1880. Nhà Đốc học cất chỗ Tòa Tham biện khi Tây bình định Gò Công (1864 – 1868) (xem đoạn nói về nhà Lãnh binh Tấn). Năm 1885 Tây cất Dinh Chánh Tham biện và Tòa Bố (tòa Hành chánh) nên Tòa Tham biện dời về Tòa Bố mới, dùng khu đất trống cất nhà Đốc học.
Nhà của Đốc học cất sau năm 1885 vài năm và mất chức năng nầy từ sau 1945, chuyển cho phía quân sự sử dụng.
Từ 1945 đến 1975, tòa nhà giữ nguyên dáng dấp như thấy trong hình. Chỉ bên góc phải dưới tấm hình thấy các trụ xi măng và “railles” sắt làm rào chắn từ Cầu Quan xuống, bị phá bỏ một lượt với Cầu Quan năm 1943. Cũng từ góc phải dưới của hình, con đường có cây dương chạy cập bờ Bắc Kinh còn tồn tại đến 1975, dẫn đến tòa nhà Phó Tỉnh trưởng sau 1954 làm Bộ Chỉ huy Tiểu khu Gò Công và dẫn vào Trại lính Gạc (la Garde Civile Locale), từ năm 1954 trại nầy thành trại Cải huấn tức khám đường chế độ cũ. Và cũng từ 1964 cái hàng rào bằng cây sống phía hong và phía mặt tòa nhà bị thay đổi, Cổng cũng thay đổi. Cả cây da cổ thụ vào cổng thấy bên phải cũng bị đốn.
Sau 1975, tòa nhà là Văn phòng Huyện đội Gò Công Đông, từ 1987 là Thị đội Gò Công. Khi là văn phòng Thị đội, mái nhà và mặt tiền tòa nhà được cải tạo theo hiện đại, nhìn khó nhận ra dáng dấp cũ.
Tháng 7 năm 2007 tất cả khu quân sự nầy chuyển sang địa điểm mới ở Nền Bông Bà Phủ cũ. Tất cả các kiến trúc đều phá bỏ, nhà Đốc học xưa biến mất. Bây giờ là bãi đất trống, rộng trên héc ta đang chờ qui hoạch.
Tòa nhà Đốc học, cùng nhà Bưu Điện, cùng Nhà Bà Phước bị phá năm nay 2007, khiến Thị xã Gò Công chỉ còn Dinh Chánh Tham biện xuống cấp đang chờ trùng tu và nhà Hiệu trưởng Trường Nữ nay vẫn còn tốt dùng làm Văn phòng của Phòng Giáo dục Thị xã Gò Công.
Cũng còn một tòa nhà Tây nữa của bức hình số 7: Kho Muối.
LỊCH SỬ NHÀ ĐỐC HỌC
Đọc đoạn văn kể việc một bác sĩ người Pháp tên Morice đến viếng Gò Công vào tháng 10 – 1872 có kể ông ta thấy:
Lúc đó Gò Công được xem là một tỉnh đông dân với 33.000 dân tập trung trong 45 làng. Tỉnh lỵ chẳng có gì khác mấy so với các khu toàn nhà lá ở Sài Gòn.
Một số nhà lá vẫn còn ôm lấy một phần bến tàu và người ta có thể thấy vắt qua sông là một cây cầu theo kiểu Trung Hoa.
Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra. Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.
Người cố cựu Gò Công đọc đoạn văn nầy bây giờ cũng có thể hình dung đoán chắc nơi bài văn mô tả nhờ những chi tiết về con sông, con rạch , cái Pháo đài…
Con sông hơi rộng có chiếc cầu kiểu Trung hoa là Rạch Gò Công thường gọi sông Gò Công và cây cầu ở chỗ cầu Long Chánh bây giờ nối liền bên Đông với bên Tây của tỉnh lỵ. Còn con lạch có chiếc cầu thông qua làng rõ là con rạch Cửa Khâu (vài năm sau vét và sửa thành Kinh Salicetti), chảy qua khu lỵ sở Huyện Tân Hòa chia phía Bắc là thôn Thuận Tắc, phía Nam là thôn Thuận Ngãi. Khi Tây ổn định huyện Tân Hòa mơ!i đổi thành tỉnh Gò Công. Phía Nam tức bên thôn Thuận Ngãi Pháp cho đặt Nhà việc làng Thành Phố, còn phía Bắc con rạch tức bên thôn Thuận Tắc tuy nhập với thôn Thuận Ngãi làm làng Thành Phố, nhưng Pháp xây dựng thành khu công sở cho tỉnh lỵ Gò Công. Vậy cho nên năm 1872 ta mới thấy Pháo đài (sau thành trường học) và Sở Thanh Tra. Sở thanh tra hay còn gọi là Sở Tham biện cùng dịch từ một chữ Tây là “Inspection”. Lúc đầu tức các năm 1868 trở đi, người ta dịch Inspection de Go Cong (tương đương với tỉnh) là Tham biện Gò Công nên viên tỉnh trưởng lúc ấy dân gọi là Chánh Tham biện, Sau nầy tới năm 1945 dù rằng tỉnh Gò Công, chữ Tây chánh thức là Province de Gò Công và tỉnh trưởng là Chef de province, dân Gò Công vẫn gọi là ông Chánh Tham biện hay gọi tắt là “ông Chánh”. Cũng vậy, bây giờ ai thấy chữ Inspection đều dịch là Sở Thanh tra, quên chữ “tham biện” đi.
Từ đoạn văn trên, ta lập lại đoạn cuối:
Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra. Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.
Nói, “Sở Thanh tra là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu, có một hàng hiên rất đẹp, ta có thể hiểu ngôi nhà nầy không phải do Tây cất mà có thể là nhà ở của viên tri huyện Tân Hòa cũ hay lỵ sở của thôn Thận Tắc cũ…Lại nói lúc đó Pháo đài và Sở Thanh tra chỉ cách nhau một hàng rào, từ cái hàng rào nầy qua cây cầu (sau nầy cất Cầu Quan) qua chợ làng mới Thành Phố. Như vậy năm 1872 phía sau Pháo đài và Sở Thanh tra (Tham biện) về mạn Bắc chưa có qui hoạch còn đầm lầy và nhà lá dân cư của thôn Thuận Tắc cũ.
Đến năm 1885 cất Dinh Chánh Tham biện ở vị trí phía sau như thấy bây giờ. Có Dinh tức phải có đường đi tới nên Tây bắc cây Cầu sắt, dân sau gọi là Cầu Quan và mở đường theo hàng rào nói trên đến trước cổng Dinh. Có cầu sắt và con đường mới, Pháo đài và Sở Tham biện bị tách ra. Tây lại cất Sở Tham biện mới bên phía Tây trong khuôn viên mênh mông của Dinh. Tây vẫn gọi Sở mới là Inspection de Gò Công, nhưng người dân, theo hồi thời Nhà Nguyễn, gọi là Tòa Bố. (tôi có viết về Tòa Bố và các công sở thời cũ đăng ở Go Cong. Edu,net). Có Tòa bố là tòa nhà trệt hình chữ “công” rộng rãi (tồn tại đến các năm 1995) nên phá bỏ Tòa Tham biện cũ bên Pháo đài.
Tức nhiên là sau 1872, Pháo đài không còn chức năng chống “phiến loạn” nữa Tây cho biến thành trường có các lớp học dạy Quốc ngữ và tiếng Tây. Rồi khi các tổng bắt đầu có trường dạy lớp Chót, Tư, Ba, các làng lớn có trường dạy lớp Chót có thể có lớp Tư rồi Ba thì toàn tỉnh Gò Công hình thành một mạng lưới giáo dục Pháp Việt. Lúc nầy Tây bổ một “viên chức giáo dục” coi hết các trường trong tỉnh, tức nhiên ông nầy coi luôn trường tỉnh lỵ. Viên chức nầy Tây gọi là Directeur des écoles de la province, không có tiếng Việt dịch ra. Người dân nhớ lại Triều Nguyễn từ 1862 về trước gọi viên quan trông coi việc giáo dục một tỉnh là Đốc học, nên gọi cái ”ông” có chức vụ chữ Tây như trên, tức “ông” vừa coi trường tỉnh lỵ vừa coi hết và đi thanh tra các trường trong tỉnh là ông “Đốc học”. Cái trường tỉnh lỵ có tên Tây vì bên chợ muốn đến phải qua “Cầu Quan” nên gọi luôn cái trường có tên Tây khó biết là “Trường Quan”. Tây cất nhà cho ông Đốc học trên nền của Sở Tham biện cũ (cũng cất luôn tòa lầu làm dinh Phó Tham biện phía Đông, cũng trên khuôn viên nầy). Nhà Đốc học Tây gọi là, “Habitation du Directeur des écoles de la province”. Như thấy ghi chú dưới hình.
Theo truyền thống Trường Nam tỉnh lỵ Gò Công thì có tất cả 22 “ông Đốc học” Tây và Việt, bắt đầu bằng ông Đốc học người Việt: 1. Huỳnh Văn Định, rồi đến các ông Tây, thoảng có các ông người Việt như: 5. Huỳnh Thiên Hộ 12. Lê Văn Sang 20. Phạm Thiều 21. Huỳnh Văn Hai (tới 1945) và chấm dứt là 22. Phạm Văn Hợi (1946). Ông Đốc học cuối cùng ở Nhà Đốc học là ông Huỳnh Văn Hai. Sau 1945 nhà Đốc học chuyển sang cho bên quân sự sử dụng…
(còn tiếp)
MẶT PHÍA NAM NGÓ RA KINH SALICETTI,
TỪ 1943 NGÓ RA PISCINE
PHẦN III
VĂN PHÒNG TRƯỜNG NAM TIỂU HỌC
TIẾP NỐI VAI TRÒ VĂN PHÒNG ĐỐC HỌC
Nói thêm, từ năm 1946 Pháp và Chánh phủ Nam kỳ tự trị bổ thầy Phạm Văn Lắm làm Thanh tra Tiểu học hàng tỉnh. Thế là vai trò Đốc học thời nền Giáo dục Pháp-Việt đã chuyển sang chức vụ Thanh tra hàng tỉnh. Ông Thanh tra Phạm Văn Lắm coi hết giáo dục trong tỉnh nhưng không làm Hiệu trưởng Trường Nam Tiểu học Gò Công như thông lệ từ trước. Ông Phạm Văn Hợi làm Hiệu trưởng cả hai trường Nam Nữ, nên dân còn gọi là ông Đốc Hợi. Năm đó Tây mới trở lại tình hình bất ổn nên các trường làng chưa mở lại nên ông Đốc Hợi thật sự coi có hai trường. Còn ông Phạm Văn Lắm, từ 1946 trách vụ còn lớn hơn ông Đốc học ngày xưa vì ông có quyền mở trường, tuyển thêm giáo viên v.v. Có thể nói ông là người sẽ chuyển đổi nền giáo dục Pháp Việt (thời Thuộc địa) sang nền Giáo dục Việt (1950)
Người dân gọi ông là ông Thanh Tra Phạm Văn Lắm. Nếu hồi thời Tây, người dân gọi viên chức giáo dục cao nhứt “Directeur des écoles de la Province de Gò Công” (trước 1945) là ông Đốc học Gò Công là chức “tương đương” chứ trong công văn giấy tờ chỉ biên bằng tiếp Tây như trên; thì nay (1946) chức vụ của ông Phạm Văn Lắm được ghi rõ bằng tiếng Việt là Thanh tra tiểu học hàng tỉnh. Nếu phải gởi công văn cho Tây (1946 – 1950) thì chức vụ nầy được ghi là “Inspecteur de l’Éducation Primaire Provinciale” và văn phòng của ông Thanh tra Phạm Văn Lắm đặt ở Văn phòng Hiệu trưởng Trường Nam Tiểu học Gò Công. Vì ông Thanh tra Phạm Văn Lắm không ở chỗ Nhà Đốc Học nữa nên Nhà Đốc học mất chức năng từ đây (1946)
Trường Nam Tiểu học, vô hình chung, là đầu nảo của giáo dục toàn tỉnh.
Từ năm 1946 đến 1950, người dân vẫn quen gọi Trường Quan khi nói đến Trường Nam Tiểu học vì cho tới năm 1949 trường vẫn còn tấm bảng ghi bằng chữ Tây khó biết : École Primaire Complémentaire des Garçons de Go Cong, bảng quây đối diện bảng trường Nữ cũng bằng chữ Tây giống như bên trường Nam chỉ thay Garçons bằng Jeunes Filles tức là thiếu nữ.
Thầy Phạm Văn Hợi tiếp tục làm Hiệu trưởng hai trường Nam và Nữ tới năm 1950 rồi thầy chỉ làm Hiệu trưởng trường Nữ cho tới năm 1955 rồi nghỉ hưu. Thầy Võ Văn Giáp làm Hiệu trưởng Trường Nam Tiểu học Gò Công từ năm 1950 là năm chính thức chuyển sang nền giáo dục Việt.
Ông Phạm Văn Lắm vẫn làm việc ở Văn phòng Trường Nam, cho đến cuối năm 1954, ông mở lại tất cả các trường ở các tổng, làng tỉnh Gò Công. Ông tuyển hằng trăm giáo viên không qua trường lớp sư phạm chỉ có điều kiện tối thiểu: trên 18 tuổi, có văn bằng Sơ học (Tiểu học Pháp Việt) cho đi kiến tập tại các trường Sơ cấp địa phương, sau một tháng sẽ đứng dạy các lớp Năm (Chót, giờ là lớp 1), lớp Tư (giờ lớp 2), còn nếu có bằng Diplôme, Brevet (bằng Thành Chung, Tài năng) tương đương Trung học đệ nhứt cấp, giờ là tốt nghiệp lớp 9, cũng đi thực tập tại các trường Tiểu học địa phương và sau đó dạy lớp Ba, Nhì, Nhứt. Tôi vào nghề theo diện sau vào cuối năm 1954 đi thực tập tại trường Nam và Nữ và đầu năm 1955 đi dạy lớp Ba trường làng và 1957 về dạy lớp Nhứt trường Nam Tiểu học Gò Công
Năm 1956, Gò Công sáp nhập với Mỹ Tho lập tỉnh Định Tường, ông Thanh tra Phạm Văn Lắm được bổ làm Ty trưởng Ty Tiểu học Định Tường và ông chuyển về Mỹ Tho.
Vậy người lãnh đạo giáo dục tỉnh Gò Công (từ 1868 – 1956) gọi như sau:
Từ 1868 – 1946: Directeur des écoles de la Province, dân gọi “Đốc học”
Từ 1946 – 1956: Thanh tra Tiểu học hàng tỉnh Gò Công
Rồi tiếp theo sự nhập tỉnh (1956), được gọi:
Từ 1956 – 1972: Thống nhất ở các tỉnh miền Nam: Ty trưởng Ty Tiểu học
Từ 1973 – 1975: Nhập chung giáo dục Trung, Tiểu học, Học nghề, Văn hóa, Thể thao v,v vào một Ty nên gọi:
Trưởng ty Văn hóa Giáo dục và Thanh niên.
Vậy từ năm 1956 Văn phòng Trường Nam chỉ còn là văn phòng của Hiệu trưởng Trường Nam…
MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ GIÁO DỤC GÒ CÔNG
Từ thưở ban đầu cho đến tháng 9 năm 1955 nền giáo dục Gò Công chỉ phát triển có hai cấp:
Sơ cấp: 3 lớp đầu giờ là lớp 1, 2, 3
Tiểu học: 2 lớp cuối giờ là lớp 4, 5.
Ngày 30 tháng 9 năm 1955, 3 lớp Đệ Thất (lớp 6) được tuyển và Trường Trung học Gò Công được thành lập.
Ông Phạm Văn Lắm, Thanh tra Tiểu học hàng tỉnh Gò Công, đề nghị Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn được chấp thuận và đề kế hoạch thành lập. Ông giao sự điều hành cho ông Hiệu Trưởng Trường Nam kiêm nhiệm.
Thầy Võ Văn Giáp phụ trách Hiệu trưởng Trung học Gò Công ba niên khóa đầu (1955 – 1958)…
PHAN THANH SẮC
Đọc thêm!

NHÀ CẦM ĐỒ VÀ CÁI THÁP
(Go Cong-Mont-de-Piété et le Monument)
PHẦN I
Xuất xứ: Ảnh Gò Công trích từ tập ảnh PHOTO-NADAL, Sài Gòn, từ những năm 1940
Mô tả: Hình chụp từ trước hàng rào nhà Đốc Phủ Hải, thấy tòa nhà cầm đồ sau là Dưỡng đường Bác sĩ Trương Văn Huân trước 1975.
Đã mô tả ở bài trước.
Xin thêm: chữ Pháp mont-de-piété là danh từ chung chỉ một loại “banque de charité” tức “ngân hàng từ thiện” hay định nghĩa rõ hơn “établissement où l’on prête de l’argent à intérêt sur nantissement” giờ thì nghĩa quá rõ là”nơi người ta cho mượn tiền lấy lãi dựa vào sự cầm thế món vật có giá trị”. Người dân “sót” việc đợ của cải lại trả lãi không thấp nên không thấy mục đích từ thiện (!) nên gọi là tiệm cầm đồ, Và đây là tiệm cầm đồ của Tập đoàn Chú Hỏa ở Chợ Gò Công.
Tòa nhà nầy lúc đó ngó ra đường chạy đến bến xe đò (tồn tại tới các năm đầu 1960) và bến ghe tại Vàm Kinh Salicetti. Nay tòa nhà thay mái ngói bằng nóc bằng (các năm đầu 1950) và ngó ra đường Rạch Gầm nối dài, giờ buôn bán sầm uất lấn chiếm đến mé sông.
Nhìn vào bên trái tòa nhà bây giờ là các căn trệt cất tới đường Hai Bà Trưng.
Cái tháp trắng có trụ cao với núm như bánh sinh nhật. Xung quanh và gần sát với tháp có các trụ sắt dăng lòi tói bốn bề. Mỗi cạnh có 2 đoạn lò tói dăng thòng từ trụ sắt giữa. Có tất cả là 8 trụ sắt. Thân tháp cao lối thước rưởi, mỗi cạnh lối 3 thước, trụ cao trên hai thước. Kiểu tháp nầy tôi từng thấy một cái ở chợ Long Điền, Bà Rịa các năm 1960, cũng để ghi công một công bộc của nước Pháp. Đây là một kiến trúc kiểu Gothique của Pháp, công bình mà nói, dáng vẽ có nét đẹp, nhưng đối với dân ta là “khối” ô nhục nặng nề!
Mặt tháp ngó ra đường Đốc Phủ Đức, và qua một vườn cỏ sẽ thấy Nhà việc làng Thành Phố (maison communale de Thành Phố), xa và sau nhà việc là ngôi đình làng Thành phố nay vẫn còn, mặt tiền màu đỏ.
Nhìn mặt trước thân tháp thấy (xin tưởng tượng thêm) sẽ thấy tấm dá cẩm thạch trắng khắc các hàng chữ “6, 7 chục năm bia miệng” bằng chữ Pháp như sau:
A la mémoire du Lanh Binh Huynh Cong Tan,
Chevalier de la Légion d’honneur
Fidèle serviteur de la France
Nghĩa tiếng Việt như sau:
Ghi nhớ công lao quan Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn,
Đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh
Công bộc trung thành của nước Pháp.
Được biết Huỳnh Công Tấn theo Tây từ 1864 mất năm 1877 vì bịnh thì mươi năm sau Pháp cho dựng “tháp” ghi công lao của y. Tháp nằm trước nhà lồng chợ Thuận Ngãi xưa (1864) nơi Pháp đem thi thể chủ tướng cũ của Tấn, phơi 3 ngày rồi mới cho bà hầu Trần Thị Sanh lãnh thi thể chồng về chôn nơi mộ “người” bây giờ.
Giữa tháng 9 – 1945, nhân dân Gò Công phá tháp, cái khối u nhục, trong một buổi chiều thành đống đá vụn. Tôi đã thấy mũ mãn, quan phục của y được lôi ra từ giữa lòng tháp, người ta khều đưa cao lên gió, phút chốc lả tả bay rơi…
Rồi đối diện qua đường Đốc phủ Đức, nhân dân dựng ngôi tháp khác 4 cạnh bằng gỗ ghi công “Trương Công Định” và đặt lại tên tỉnh Gò Công là tỉnh Trương Công Định. Tháng 10 – 1945 Tây trở lại phá tháp và gọi lại là tỉnh Gò Công.
Từ 1954, chỗ tháp xưa cất tòa nhà 1 từng lầu làm Ty và Phòng thông tin, nay chức năng thay đổi.
PHẦN II:
HÌNH THÁP LÃNH BINH TẤN

LỊCH SỬ
HUỲNH CÔNG TẤN
GÒ CÔNG KHÔNG MUỐN NHỚ
Tên thật Huỳnh văn Tấn, người thôn An Long (Yên luông nhị thôn), Huyện Tân Hoà (Gò Công).
Ban đầu hắn theo Trương công Định chống Pháp, sau về hàng Pháp chống lại cuộc kháng chiến, bị thương tưởng chết. Hồi phục, hắn thâm thù thường chỉ điểm cho Pháp đánh phá quân kháng chiến. Ban đầu thất bại nhưng hắn kiên trì và ngày 20 tháng 8 năm 1864 hắn, Huỳnh Công Tấn dẫn đường giúp giặc Pháp bất ngờ bao vây đánh úp chủ tướng cũ tại Đám lá tối trời, làng Gia Thuận, bắn người gảy xương sống.
Sự kiện Trương công rút gươm tuẩn tiết, bị đem thây về chợ thôn Thuận Ngãi, và Bà Sanh lảnh thi thể chồng về chôn thì dân Gò Công nói chung và dân làng Thành Phố biết và thuộc nằm lòng vì đó là bảng “anh hùng ca” dễ địa phương nào có được!
Trở lại tên Tấn, Tây ghi công cất nhắc lên làm Lãnh binh tân trào, ghi tên trên các bảng bình công là Huỳnh công Tấn.
Sau năm 1864 đó, hắn cất nhà lớn tại chợ làng Thành Phố để ở với vợ con. Vị trí có thể là trên miếng đất Bà Phủ Hải bây giờ.
Trong tờ “tương phân” của Bà Hương tức bà huyện Nguơn, mẹ của bà Phủ Hải thì miếng đất nhà Bà Phủ Hải nguyên là miếng đất diện tích 35 sào do con Tấn là Huỳnh công Miên bán “le 18 Avril 1889” (ngày 18-4-1889) cho bà Hương. Bà Hương chia phần thực cho con gái út là Huỳnh thị Điệu, tức bà phủ Hải. (xem bài Nhà Đốc phủ Hải)
Năm 1985, tôi đang dạy học tại trường Trung học Trương Định, tôi có dịch cho Ủy Ban Gò Công Đông các tài liệu nhiều loại bằng tiếng Pháp trong lưu khố Toà Hành chánh cũ, trên dưới 20 trang. Cái tài liệu nầy đề cập đến việc bình ổn vùng Gò Công những năm đầu 1862 – 1870, nhất là tài liệu về công lao của Huỳnh Công Tấn. Tài liệu có cả các “phiếu bình công” hằng năm của Tấn. Trong các phiếu Pháp đều đánh giá cao tài năng mưu lược và can đảm vượt bực của Tấn. Trong một phiếu có mô tả công trạng của Tấn trong chiến dịch bình ổn Quản Định (Pháp viết Quản Định, Chef des rebelles, tức thủ lỉnh quân phiến loạn). Phiếu chót có kể Tấn tham gia chiến dịch ở Kiên Giang năm 1868 bắt Nguyễn Trung Trực, Pháp gọi là Quản Lịch. Đọc phiếu nầy mới thấy mưu lược tàn bạo của tên “chó săn” nầy. Xin xem phần dưới trích trích một vài trang nhân dân Kiên Giang căm thù Tấn. Rôi các bài báo về bửa tiệc Tấn đải các quan Tây từ Sài gòn xuống và bài báo thuật về cái chết trên chiếc ghe hầu từ Gò Công lên Sài gòn.
Khoảng tháng 7-1872, bác sĩ Morice từ Pháp tới Đông Dương sau một chuyến đi dài 45 ngày. Ông đi thăm các nới với sự tò mò của một nhà tự nhiên học. Thoạt tiên, ông thăm Sài Gòn, sau đó là chợ Lớn. Trong số các điểm hấp dẫn ông đi thăm có các khu vườn nuôi cá sấu, mỗi vườn có từ 200 tới 300 con để cung cấp thịt cho khách ăn. Hồi đó người ta rất thích thịt cá sấu.
Ba tháng sau, ông đi thăm Gò Công, một trong những trung tâm trồng lúa quan trọng. Lúc đó Gò Công được xem là một tỉnh đông dân với 33.000 dân tập trung trong 45 làng. Tỉnh lỵ chẳng có gì khác mấy so với các khu toàn nhà lá ở Sài Gòn. Một số nhà lá vẫn còn ôm lấy một phần bến tàu và người ta có thể thấy vắt qua sông là một cây cầu theo kiểu Trung Hoa. Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra. Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.
Lúc đó tỉnh Gò Công đã là một miền dễ chịu và yên bình nhờ lãnh binh Tân. Ông này mời bác sĩ Morice ăn cơm. Tại nhà viên lãnh binh, bác sĩ được chiêm ngưỡng các loại đồ nội thất khảm xà cừ và dự một bữa tiệc thịnh soạn trong khi một người mã-tà ở phía sau nhịp nhàng kéo chiếc quạt làm bằng lông chim. Gió quạt mạnh đến nỗi làm nghiêng ngả những nến (trích)
Khi tiếp khách ở bàn tiệc Tấn cho người ở trong giựt dây để đưa chiếc quạt gió cho thoáng mát vì chủ khách uống rượu Tây. Đặc biệt có món đải đặt biệt vì mô tả bằng tiếng Pháp tôi đoán dịch là món gỏi vì mô tả là rau sống trộn nước sốt chua trộn tôm thịt, gia vị thêm, ăn chắm nước mắm v.v.
Cũng là tên Tấn, bài báo thuật khi Tấn bịnh nặng chở bằng “ghe hầu” (ghe nhà giàu có mui có buồng riêng) lên Chợ Lớn giữa đường hắn trợn tròng rồi tắt thở. Đó là ngày 26-11 năm 1877, mười ba năm sau khi hại chủ tướng cũ 1864 và phục vụ đắc lực cho Pháp. Chỉ có trên mười lăm năm mà Tấn gầy một sản nghiệp to lớn về ruộng đất định để lại cho các con, hai trai ba gái. Một gái chết nhỏ, hai gái ghê sợ việc làm của cha nên bỏ đi tu theo Nhà Dòng, con trai lớn Hai Miêng phá gia chi tử bán sạch ruộng đất là sau nầy. Đất thì gần một phần tư khu Nam của rạch đã thuộc về y. Ruộng thì y dựa vào thế lực để đăng ký chiếm rất nhiều. Nhưng mươi năm sau chính hắn cũng bán để xài và sau con hắn cũng bán nốt. Năm Tân Mùi (1871) ngày 27 tháng tư , Tấn bán cho Bà Trần thị Sanh hai sở ruộng, một sở ruộng 90 mẩu 41 sào 54 thước tại làng Vĩnh Trị, và một sở ruộng 32 mẩu 23 sào 84 thước tại làng Vĩnh Thạnh. Lúc bán trên 120 mẩu ruộng đó là mới 9 năm theo Pháp, Hắn còn bán nữa trong năm 1874.
Hắn mất, Pháp cho làm tang lễ trọng thể. Tôn Thọ Tường, bạn “đồng liêu tân trào” có hai câu đối viếng, ghi lại như sau coi như bia miệng đến hồi kết cục:
“Phú quới thị thảng lai, oanh liệt hùng tâm khinh nhứt trịch,
Thinh danh ưng bất hủ, ức dương công luận phú thiên thu”
Dịch nghĩa:
“Giàu sang ấy thoảng qua, lừng lẩy hùng tâm khinh một ném,
Tiếng tăm đành chẳng mục, chê khen công luận phú ngàn năm”
Pháp và gia đình chắc cũng biết dân Nam ta sẽ không khen mà còn hận y nên khi động quan bí mật chôn y một trong 5 cái huyệt và xây năm mộ giống nhau miệt Yên luông! Vợ y lúc đó dân gọi là Bà lớn không giống chồng, hiền thục, muốn cứu rổi linh hồn y nên lập một cảnh chùa thờ ông Quan Thánh, gọi là chùa ông, có bàn thờ và bài vị thờ Tấn. Mới 20 năm trước đây (1987) bài vị vẫn còn. Chùa nay là Nhà trẻ Sơn ca. Riêng Pháp sau khi y chết lập tháp ghi nhận công lao y, bảng khắc, tôi đã từng ghi lại và là bia bêu rếu. Năm 1945, nhân dân phá tháp. Một buổi chiều tháng mười, tôi đã thấy tháp bị phá !
Tấn chết, chưa hết chuyện tại làng Thành Phố, tiếp nôi người con trai cả Huỳnh công Miêng [1], sau khi cha chết Pháp cho du học bên Pháp. Về nước Miêng lúc đầu theo Trần Bá Lộc, đánh với “giặc” Văn Thân ngoài Thuận Khánh. Sau nghĩ sao không rõ mà không nhận chức gì, chỉ ngao du ăn xài theo bậc công tử. Đi khắp lục tỉnh, đi đến đâu, ưa đánh lộn bênh vực người mắc nạn, hết tiền vô quan Tây “mượn xài”. Quan nể tình cũ với cha, hằng trợ giúp và dầu phạm pháp cũng không bắt tội.
Khi chết được đời nhắc tên “Cậu Hai Miêng” dưới cái danh ngộ nghĩnh “lưu linh miển tử”.Đến trước 1945 ở Nam Kỳ và ở làng Thành Phố, gặp thấy ai hành động ngang tàng mà không bị tội, ưa nói “bộ thằng đó là lưu linh miễn tử hay sao mà?”.
Hai Miêng xuất thân làng Thành Phố nhưng lừng danh ở lục tỉnh Nam Kỳ, hành động dọc ngang ở khắp nơi, chỉ có việc bán ruộng phá gia là xảy tại Gò Công. Như trên đã nói Hai Miêng đã bán miếng dất sau cùng cho Bà Huyện Ngươn. Có thể Hai Miêng chết vào khoảng năm 1890, thọ 38 tuổi và mộ phần tại Cầu Kho, quê vợ. Bài thơ “Khóc cậu Hai Miêng của Lê Quang Chiểu in trong “Quốc văn thi tập hiệp tuyển” xuất bản tại Sài Gòn năm 1903 có đoạn viết:
“Số hệ làm ai hởi cậu Miêng
Ba mươi tám tuổi dõi huỳnh tuyền
Sao lờ (mờ) Bến Nghé xiêu người ngõ
Khói toả Cầu Kho thảm vợ hiền.”
Thì ra Hai Miêng khi chết cũng có người, tất nhiên không phải người làng Thành Phố, khóc. Ít ra trong cuộc đời ngang dọc của Hai Miêng cũng phải có nhiều điều đáng tán dương. Do đó ngay sau khi Hai Miêng chết ở Nam Kỳ phổ biến bài vè dưới hình thức thơ lục bát.Thơ Cậu Hai Miêng hiện tôi có do Nhà Xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998, gồm 990 câu lục bát, giới thiệu nhân vật nầy như sau:
“Nam Kỳ có cậu Hai Miêng,
Con quan lớn Tấn ở miền Gò Công”
Truyện thơ Cậu Hai Miêng, Thầy Thông Chánh và Sáu Trọng in sớm ở Nam Kỳ vào những năm đầu Thế kỷ 20. Các chuyện nầy vừa phổ biến là Pháp tịch thu ngay. Vì chúng được coi là các truyện thơ “làm rung rinh chế độ thực dân Pháp vào đầu Thế kỷ XX” như lời trong “Địa chí văn hoá TP Hồ Chí Minh (tập 2) NXB TP Hồ Chí Minh, 1988 (trang 46).
Cuối các năm Thế kỷ thứ 19, không còn việc tranh bán đất bán đai của hai cha con Tấn nữa, nhưng làng Thành Phố phải chịu đựng cái “tháp thạch trụ” chơ vơ ghi tên Tấn, hàng chữ ghi công không ai đọc trừ các học trò học tiếng Pháp tò mò, đọc thuộc nhưng không thông về nghĩa. Như trên đã nói tháng 10-1945, tháp bị đập bỏ.
HUỲNH CÔNG TẤN
KIÊN GIANG THÙ HẬN
Sau khi quân Pháp chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, Hà Tiên cũng vùng lên tranh đấu. Đêm 16 tháng 6 năm 1868, đoàn dân quân do anh hùng Nguyễn Trung Trực chỉ huy, từ Phú Quốc kéo qua đánh úp thị xã Rạch Giá, giết hết quân Pháp, giải tán tất cả các cơ quan hành chánh của quân Pháp. Làm chủ tình hình trong một tuần lễ, ông nghe tin đại quân sắp kéo đến, bèn chở hết võ khí, lương thực về Hà Tiên, rồi lánh sang Phú Quốc lập chiến khu tại cửa cạn. Tại đây, nghĩa quân được hai nhà yêu nước Nguyễn Văn Điền và Nguyễn Văn Ngợi hỗ trợ rất nhiều. Hai ông đã đem hết tài sản đóng góp cho cuộc kháng chiến và tổ chức đoàn thuyền qua Xiêm mua khí giới cho quân ta.
Giặc Pháp đánh nhiều lần không nổi, sau chúng phải đem toàn lực tấn công ở mặt Dương Đông. Lúc đó, nghĩa quân chỉ còn 30 người, bà Nguyễn Trung Trực lại sinh nở ngay lúc chạy giặc trong một đ êm mưa to nên đã thiệt mạng cả mẹ lẫn con. Hai tên Huỳnh Công Tấn và Đỗ Hữu Phương (Tổng Đốc Phương) dùng mưu bắt cóc mẹ ông và một số đồng bào làm áp lực bắt ông hàng.
Anh hùng Nguyễn Trung Trực biết không thể tiếp tục chiến đấu được nữa nên đã tụ họp nghĩa quân lại, ông nói "Giặc không giết được chúng ta, nhưng cạn lương thực sẽ bị chết hết". Nếu ta nói "thà chết lúc này" thì cũng chẳng ích gì cho mai sau!. Giặc bắt được tôi thì mừng lắm, sẽ không làm hại anh em. Anh em cố sống mà tiếp tục báo quốc. Tôi biết anh em không tham sống sợ chết, phải can đảm để liệu cách xuất xử". Sau đó, ông cho đổ hết lương thực dự trữ ở Bưng Cây Lương (gần cửa Cạn), rồi tự trói mình ra gặp Huỳnh Công Tấn để cứu mẹ và dân chúng. Giặc Pháp phủ dụ ông quy thuận không được nên đã đem ra hành quyết tại Rạch Giá ngày 27 tháng 10 năm 1868.
PHAN THANH SẮC
14 - 11 - 2007
ĐƯỜNG LỘ CHÍNH Ở GÒ CÔNG
(Go Cong – Rue principale)
PHẦN I
MÔ TẢ BỨC ẢNH XƯA
Xuất xứ: Tập ảnh Gò Công xưa – trích từ Tập ảnh của nhà PHOTO – NADAL Sài Gòn các năm trước 1940.
Tên bức hình: Đường lộ chính, tiếng Pháp: Rue principale. Tên đường trên bảng ghi: Rue Đốc Phủ Đức. Nay là đường Hai Bà Trưng.
Vị trí chụp: Đứng trước cổng tòa Bungalow, trên đường, chệch về mé kinh, sau lưng người chụp là phía Nam đầu Cầu Quan, nên thấy đoạn đường dài trên 200 mét ngắn lại. Vậy xác định con đường nay vẫn còn nhưng rộng thêm về phía kinh.
Các điểm chuẩn: Tòa nhà ở “fond” hình nay vẫn còn, lúc đầu là nhà của một công ty Tây sau sang cho tập đoàn Chú Hỏa làm tiệm cầm đồ, cuối các năm 1940, là dưỡng đường của Bác sĩ Trương Văn Huân. Lúc nầy mái ngói đã thay thành nóc bằng, sửa sau năm 1954, tôi có biết. Nay tòa nhà thuộc về một bác sĩ sản khoa. Trước và bên trái tòa nhà còn thấy cái cái tháp có cột tròn cao. Đó là tháp Tây xây kỷ niệm Lãnh binh Huỳnh Công Tấn. Cái tháp nầy phá bỏ giữa tháng 9 năm 1945. Trước từ năm 1940 và hôm đập cái tháp nầy tôi có biết, sẽ kể sau. Vị trí chỗ cái tháp, trong hình tưởng nhỏ nhưng thật ra cũng rộng, hiện trên đó đã cất tòa lầu sau 1954 làm Phòng Thông Tin, nay chức năng thay đổi làm Shop thời trang…Thêm sau Phòng Thông Tin sau 1975 lại cất thêm tòa một từng lầu là nhà hàng A Long. Vậy tòa lầu ở “fond” hình, nay đến Phòng Thông tin nhìn bên hông trái mới thấy. Còn dãy lầu mái ngói đen ở “fond” bên trái nay vẫn còn, có sửa chửa nhưng ít, ngó mặt ra đường Rạch Gầm bây giờ. Dãy phố nầy cùng với dãy phố đường Lê Lợi đối diện qua khu Nhà việc làng Thành Phố (nay là cơ sở Bưu Điện và Siêu thị sách Văn), trước 1954 thuộc về khu “Chợ cũ”.
Bên trái tấm hình, từ chỗ chụp hình, là hàng rào nhà Bưu Điện. Cái cây cao ở trong rào nhà Bưu Điện. Hàng rào trắng hơn thấy ngắn nhìn kỹ thấy cái trụ cổng cao biết được là cổng Nhà Đốc Phủ Hải. Hàng rào nầy dài lối 50 mét nay vẫn còn nguyên dạng. Hàng rào Bưu Điện không còn cũng như Nhà Bưu điện sau nhiều lần sửa chửa đã bị triệt hạ đầu năm 2007 và một tòa lầu Bưu Điện thay thế hoạt động đâu tháng 9 – 2007.
Cảnh nửa tám hình bên phải là hai hàng cây dương . Hàng dương thấp đứng từ tòa lầu ra vàm sông. Hàng dương cao trồng trên bờ phía Bắc Kinh Salicetti che mát con lộ trước Trường Nữ Gò Công. Tưởng tượng sẽ thấy giữa hai hàng dương thấp cao là khúc kinh queo ra vàm sông, Chỗ quẹo nầy giờ là Bến Bạch Đằng.
Thấy dòng kinh thì đây là khúc đầu tiếp khúc quanh của Kinh Salicetti. Đoạn nầy cũng dài. Giờ thì bi thay thế bởi nhà Ngân Hàng Nhà ở Đồng bằng sông Cửu Long ở góc đường Lê Lợi, đến các mặt tiệm, nổi bậc là tòa lầu tiệm đồ điện Lương Trí và các tiệm trước Trường Học Nghề (gọi tắt vì là Trung tâm dạy nghề gì đó…) đến khúc đường Trần Hưng Đạo rồi tới Công viên Đài Chiến Tích Tết Mậu Thân (trên Piscine xưa) và chỗ người lính “mã tà” mặc áo trắng đội nón cối là ngang với Tượng đài bây giờ. Giữa lộ ta thấy chiếc xe ngựa. Đây là chiếc xe ngựa đặc biệc của Gò Công trước 1954 (sẽ giới thiệu bài “Con đường ,,, Lộ Dương”, có các chiếc xe ngưa nầy) Chiếc xe ngựa nầy chắc từ ngoài Sơn Qui (các làng Tân Niên Trung, Bình Xuân, Bình Thạnh Đông) vào chạy ngang Nhà Thờ chạy qua Ngã Tư Nhà Thờ đến mé sông quẹo phải theo con lộ đá bên bờ Bắc của kinh (đường vô khám trước 1975) rồi tới nữa qua Trại lính Gạc (sau 1954 làm Trung Tâm Cải Huấn tức khám), tiếp qua dinh Phó Tỉnh Trưởng (từ 1954 – 1975 là Tiểu khu Gò Công, sau 1975 là Thị Đội nay Thị đội dời đi, khu nầy thành đất trống có qui hoạch cất khu gì đó…). Xe ngựa chạy tới ngã tư thấy Trường Quan quẹo trái qua Cầu Quan, queo mặt qua Bungalow, trong hình là xe ngựa sắp tới Nhà Bưu điện. Trong hình không thấy cầu Quan vì Cầu Quan ở sau lưng bên mặt của người chụp. À còn chiếc ghe đậu thấy sau người lính mã tà là chỗ bực đá lên xuống kinh trước khoảng giữa Bungalow và Bưu Điện, giờ là giữa Nam của Công viên.
Năm 1943, Tây cho đắp đập qua kinh, nay là đoạn đường Trần Hưng Đạo và phiá Cầu Quan làm Piscine. Năm 1945 nhân dân phá tháp Lãnh Binh Tấn. Vậy bức hình nầy phải chụp trước năm 1943.
PHẦN II
LỊCH SỬ
Tên đường Đốc phủ Đức
Dưới bức hình ghi chú là Rue principale tức là con đường chính. Con đường chính là đúng vì trên trục đường nầy bắt đầu từ cầu Long Chiến đổ dốc xuống quẹo trái là bắt đầu vào đường nầy. Bên phải thấy cổng vào Nhà thương Gò Công rồi hai bên là các tiệm hàng bán đủ mọi thứ rồi tới mặt chợ Gò Công xây năm 1916, đụng ngã tư với đại lộ tên Tây là Boulevard Rodier. Đây mới là đường trung tâm hướng Bắc Nam của chợ Gò Công (đã nói ở các bài trước). Qua ngã tư con đường chạy thẳng để ta thấy tháp Lãnh binh Tấn rồi con kinh như trong hình. Con đường qua khỏi nhà Bà Phước quẹo phải đi đến Ao Trường Đua, đoạn nầy có tên khác. Còn con đường Đốc Phủ Đức có con đường đá nối dài dọc theo mé kinh xuống tới Cầu Huyện. Con đường nối dài không có tên cho đến sau 1954 mới đặt tên là đường Tổng Đốc Phương. Cũng vậy từ 1954 đường Đốc Phủ Đức đổi thành đường Trưng Nữ Vương. Sau năm 1975, con đường cùng đường nối dài có cùng tên là đường Hai Bà Trưng như bây giờ.
Còn Đốc phủ Đức là ai? Được biết là ông Lê Văn Đức theo Tây cùng thời với Huỳnh Công Tấn và được hàm Đốc phủ sứ. Ông Đốc Phủ Đức hiền hơn Lãnh binh Tấn. Dân khu Nam chợ Gò công mang ơn ông cho đào ao giữ nước cho dân địa phương xài. Đó là Ao Ông Đốc, hiện ao bị lấp bằng lấy đất cất công sở trường học của Phường 5 Thị xã Gò Công.
NHÀ ĐỐC PHỦ HẢI
Đây là ngôi nhà tiêu biểu cho giai tầng điền chủ trí thức quan lại thời Tây. Nhà xây theo kiến trúc kim pha cổ hài hòa đẹp đẻ, trước có vườn trổng bông cây kiểng, hiện vẫn là điểm thanh lịch u nhàn giữa lòng khu đô hội. Nhà cất xong năm 1909 trên diện tích tổng thể 35 sào. Chủ nhân là ông Nguyễn Văn Hải ( 1875 - 1940 ) và bà Huỳnh Thị Điệu ( 1877 – 1955),
Ông Hải được biết lúc thanh niên được học hành tử tế, có triển vọng nên được ông bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn và Dương Thị Hương gả con gái út cho thành cặp vợ chồng nổi tiếng nhất Gò Công trước 1945. Ruộng đất do bà Phù Hải hưởng từ cha mẹ, thêm ông Hải quan lộ hanh thông nên của cải được coi nhất nhì tỉnh cũ. Năm 1930 ông được thăng Phủ và khi ông mất năm 1940 ông được hàm Đốc phủ sứ Danh dự vả được thưởng Bắc đẩu bội tinh đệ ngũ đẳng. Thật ra người nổi tiếng ở ngôi nhà nầy chính là bà Phủ Hải nhủ danh Huỳnh Thị Điệu. Từ năm 1940 dân Gò Công gọi nhà Đốc phủ Hải là Nhà Bà Lớn vì ông lớn mất rồi. Bà lớn có mẹ là bà Huyện Ngươn nhủ danh Dương Thị Hương con gái duy nhất của bà Trần Thị Sanh nên khi bà Sanh mất năm Nhâm Ngọ 1882, thì thừa hưởng tất cả gia sản của bà Sanh nên giàu nhất Gò Công. Năm 1894 ông Huyện Ngươn mất mãn tang nên bà Huyện Ngươn lập bảng tương phân cho hai con trai và ba con gái. Miếng dất ông bà phủ Hải cất nhà là do bà Huyện Ngươn chia cho, ghi trong tờ tương phân như sau:
“Về phần thực của Huỳnh Thị Điệu trong miếng đất thổ trạch 0 ha 35 a tại làng Thành Phố, tôi có cất một tòa nhà ngói 3 căng hai chái cây căm xe có đủ nhà bếp nhà lẩm và trong nhà đều có đủ đồ từ khí và vật dụng thì tôi cũng cho phần Huỳnh Thị Điệu luông theo miếng đất”
Chép y nguyên văn năm 1894 nên chính tả tiếng Việt thời đó có viết sai.nhiều. Bà Huyện Ngươn định giá phần thực nầy là 4000 đồng bạc. Vậy riêng miếng đất và ngôi nhà nầy giá trị lớn lắm vì trong bảng tương phân có ghi một mẩu ruộng thời giá là 30 đồng bạc. Thêm một chi tiếc nữa trong tờ tương phân ghi: miếng đất 0 ha 35 a nầy do Huỳnh Công Miêng bán cho bà Huyện Ngươn tháng 4 năm 1889. Vậy miếng đất nhà bà Phủ Hải là do con Lãnh Binh Tấn bán cho bà Huyện Ngươn chứ không dính dáng gì đến bà Hầu Trần Thị Sanh (mất năm 1882) để cho cháu ngoại cả. Người ta quây truyền hình nói đất và nhà Phủ Hải là do bà Trần Thị Sanh để cho cháu ngoại gái Huỳnh Thị Điệu !
Miếng đất nầy xưa Huỳnh Công Tấn có cất một ngôi nhà, có tiếp một Bác sĩ Tây tên Moric đến viếng. Ký giả Louis Malleret viết như sau:
Khoảng tháng 7-1872, bác sĩ Morice từ Pháp tới Đông Dương sau một chuyến đi dài 45 ngày. Ông đi thăm các nới với sự tò mò của một nhà tự nhiên học. Thoạt tiên, ông thăm Sài Gòn, sau đó là chợ Lớn. Trong số các điểm hấp dẫn ông đi thăm có các khu vườn nuôi cá sấu, mỗi vườn có từ 200 tới 300 con để cung cấp thịt cho khách ăn. Hồi đó người ta rất thích thịt cá sấu.
Ba tháng sau, ông đi thăm Gò Công, một trong những trung tâm trồng lúa quan trọng. Lúc đó Gò Công được xem là một tỉnh đông dân với 33.000 dân tập trung trong 45 làng. Tỉnh lỵ chẳng có gì khác mấy so với các khu toàn nhà lá ở Sài Gòn. Một số nhà lá vẫn còn ôm lấy một phần bến tàu và người ta có thể thấy vắt qua sông là một cây cầu theo kiểu Trung Hoa. Đầu tiên, ông đi thăm Sở Thanh tra. Sở này nằm sau một con lạch và thông vào làng qua một chiếc cầu. Đó là một ngôi nhà cổ và sang trọng kiểu Tàu có một hàng hiên rất đẹp. Pháo đài liền ngay với Sở và chỉ cách nhau một hàng rào. Chỗ lượn của con lạch và nhiều đầm lầy bao lấy Sở ở các mặt còn lại.
Lúc đó tỉnh Gò Công đã là một miền dễ chịu và yên bình nhờ lãnh binh Tân. Ông này mời bác sĩ Morice ăn cơm. Tại nhà viên lãnh binh, bác sĩ được chiêm ngưỡng các loại đồ nội thất khảm xà cừ và dự một bữa tiệc thịnh soạn trong khi một người mã-tà ở phía sau nhịp nhàng kéo chiếc quạt làm bằng lông chim. Gió quạt mạnh đến nỗi làm nghiêng ngả những nến
Đọc bài báo xưa một lần biết bao chuyện, ngoài cái khu nhà tên Tấn, biết cái pháo đài năm 1972 chưa thành trường học. Con rạch chưa cải tạo thành Kinh Salicetti, chưa cất dinh Chánh Tham biện (1885) nên chỗ làm việc của Sở Thanh Tra tức Tòa Bố sau nầy còn đặt ở khu Thị đội. Cầu Quan chưa cất v.v.
Huỳnh Công Tấn chết năm 1887 nên năm 1889 con là Huỳnh Công Miêng bán miếng đất nhà của Tấn và Cậu hai Miêng cũng chết năm 1890.
Ngộ là miếng đất nầy lần lượt có hai bà lớn ở: Bà lớn Huỳnh Công Tấn và Bà lớn Nguyễn Văn Hải.
Rồi chuyện ông bà Phủ Hải chết chôn nơi Nền Bông Bà Phủ bên đường xuống ấp Gò Tre xuống Tân Niên Tây…không còn vết tích từ ngày 13 - 01- 2006.
Xem bài “Miền qua tuổi nhớ” đã đăng trên trang
NHÀ BƯU ĐIỆN GÒ CÔNG
(Postes, Télégraphes et Téléphones)
Nhà Bưu Điện (PTT) Gò Công nằm trên đường Đốc Phủ Đức, giờ là đường Hai Bà Trưng.
Hiện từ tháng 9 – 2007 một tòa nhà Bưu Điện hiện đại đã thay thế nhà Bưu Điện cũ.
Theo Địa Phương Chí Tỉnh Gò Công do Tỉnh trưởng Grimald lập ngày 31 – 12 – 1936 thì Nhà Bưu điện và điện tín của tỉnh lỵ Gò Công được thành lập do Quyết định ngày 15 – 7 – 1863 của thiếu tướng hải quân De la Grandière.
Năm sau, các trạm giữa Sài Gòn và Gò Công được thiết lập (quyết định ngày 8 – 6 – 1864)
Phát triển của chuyên chở thư từ:
Hằng ngày thơ từ, bưu kiện được chở bằng xà lúp (chaloupe) tức loại tàu nhỏ và bằng xe hơi (automobile)
Đầu tiên, việc chuyên chở thư từ do công ty vận tải đường sông đảm nhiệm đến ngày 23 – 2 – 1918, là ngày mà công việc nầy giao lại cho xe hơi do ngân sách của địa phương đài thọ.
Hoạt động nầy theo hai lộ trình:
1. Từ Gò Công đi Sài Gòn qua Cần Đước, Cần Giộc (Tây gọi như thế) và Chợ Lớn.
2. Từ Gò Công đi Mỹ Tho qua Chợ Gạo.
Từ đầu thế kỷ thứ 20 (1900), nhà bưu điện được cất, là tòa trệt, kiến trúc độc đáo như thấy trong hình, qua nhiều đợt tu sửa và cuối cùng bị triệt hạ tháng 4 – 2007.
Cho đến 1954, Nhà bưu điện có các chức năng: chuyển thơ nhờ hệ thống xe thơ, gởi và nhận điện điện tín (télégraphe) nhờ đường dây dăng trên cột đúc từ Gò Công lên Mỹ Tho, rồi từ Mỹ Tho chuyển đi khắp Đông Dương. Đường tráng nhựa Gò Công Mỹ Tho do đó dược gọi là đường Lộ Dây Thép. Song song vơi điện tín, việc phát triển điện thoại (téléphone) cũng nhờ đường dây dăng theo lộ dây thép nầy.
Do đó các nhà bưu điện trên toàn quốc đều ghi là PTT (Postes, Télégraphes et Téléphones).
Bây giờ ít người hiểu điện tín là gì chứ hồi xưa muốn gởi tin nhanh hơn thơ thì gởi điện tín. Điện tín sử dụng bộ máy của ông Morse phát minh. Chữ được đánh đi theo tín hiệu chấm và gạch gọi là bộ chữ Morse. Trạm nhận giải mã thành chữ không dấu và in trên giấy thường màu xanh dương, niềm hy vọng, nhưng gây hiểu lầm như tin nhắn trên điện thoại di động bây giờ. Gởi điện tín, người dân gọi là “gỏ dây thép”. Bây giờ “điện tín” hay “gỏ dây thép” đi vào dĩ vãng.
Bưu điện cũng có chức năng thêm như gởi bưu kiện (colis postal), phát bưu phiếu, dân gọi là “măn đa” (mandat postal)
Về nhân viên nhà Bưu Điện, năm 1936 gồm một Tham tá người bản xứ, người dân thường gọi là “cò mi” (commis), phụ việc có 3 thư ký, 2 bưu tá và một giám thị. Bưu tá dân gọi là “phát tơ” (facteur) đi phát thư.
Ở Gò Công cũng có Bưu điện ở nông thôn gồm 6 trạm: Bình Xuân, Đồng Sơn, Long Hựu, Tăng Hòa, Tân Niên Tây, Vĩnh Lợi được thành lập một lượt với văn phòng chánh.
Công việc được tiến hành một lần một ngày.
Ở những làng không có trạm, thì các giáo viên ở các làng quản lý việc phân phối thư từ hoặc quản lý các văn phòng Bưu điện nông thôn...Đó là công việc Bưu điện trước 1936 và cũng thế tới 1945…
PHAN THANH SẮC
12 – 11 – 2007 1: 00 AM Đọc thêm!
NHÀ NGHỈ MÁT – VIỆN NUÔI TRẺ MỒ CÔI
KINH SALICETTI – CẦU QUAN
(Go Cong – Le Bungalow – L’Orphelinat
L’Arroyo Salicetti – Le Pont Albert Sarraut)
PHẦN I
Xuất xứ: Trong tập ảnh Gò Công, trích từ tập ảnh nhà Photo Nadal – Sài Gòn trước các năm 1940.
Vị trí chụp là từ trên hành lang trên lầu Nam của Trường Quan, bây giờ vị trí là Trường Tiểu học Phường 1 Thị xã Gò Công.. Tôi cho là người chụp hình đứng trên lầu chụp ra vì trên hình thấy dòng nước quá hẹp, thật ra rộng trên 30 mét. Tôi từng đứng ở vị trí lầu nầy trong các năm cuối 1950 khi tôi dạy một lớp Nhứt trường Nam; ngày ngày tôi thấy mặt nước không còn là Kinh mà là Piscine, một đoạn đường thay vì cầu và hai tòa lầu còn y như trong hình.
Đây là bức ảnh hiếm vì nếu ai không từng thấy Nhà Bà Phước thì không thể đoán vị trí hình nầy. Đến giờ phút nầy cũng không còn thấy Nhà Bà Phước nữa vì tòa lầu đã bị triệt hạ tháng 9 – 2007 để cất thêm văn phòng cho Trường Mẩu giáo Bình Minh.
Cảnh vật trong hình kể cả ngôi lầu Trường Quan giờ không còn một tí gì lưu dấu.
Hình cho thấy một đoạn kinh, đó là Kinh Salicetti.
Bờ Bắc Kinh Salicetti không thấy trong hình vì là bên phía chụp hình, là con đường đá theo hướng Tây qua Đông chạy ngang Trường Nữ rồi Trường Nam qua Dinh Phó Tham biện qua Trại lính Gạc rồi ngoặc lên hướng Bắc gặp đường chạy qua Nhà thờ để ra Sơn Qui.
Cây cầu sắt thấp, tên trên giấy tờ là Cầu Albert Sarraut, người dân quen gọi là Cầu Quan
Hai tòa lầu trước tiên ngó ra con đường nhưa chạy dọc bờ Nam của Kinh Salicetti, hồi đó tên đường là Rue Đốc Phủ Đức, ngày nay đường mở rộng thêm lấn bên Kinh và là đường Hai Bà Trưng Hai tòa lầu ngó ra đường.
Tòa lầu thấy bên phải là Nhà nghỉ mát của thực dân Pháp tên tiếng Tây là Bungalow
Tòa nhà lầu bên trái là tòa lầu chánh của Viện mồ côi của các bà Sơ, dưới tượng thánh giá trên lầu có hàng chữ “Sœurs de Saint Paul” (Nữ tu giòng thánh Phao Lồ), dân chúng gọi thân thương là Nhà Bà Phước.
PHẦN II
CÁI THỜI CỦA KINH SALICETTI
Ở bài của hình Chợ Gò Công, tôi có trình bày quá trình thành lập làng Thành Phố làm tỉnh lỵ Gò Công của Pháp khi bình định toàn huyện Tân Hòa cũ từ năm 1864. Hai công trình Pháp thực hiện đầu tiên ở trung tâm làng Thành Phố là xây một tòa lầu làm pháo đài dạng lầu hình chữ thập (1868), trí súng bốn hướng ngừa tàn dư nghĩa quân của Trương Công Định. Dân thấy thành có lính khố đỏ, lính mộ của Tây, trú đóng nên gọi là thành “săn đá”; săn đá là gọi trại chữ Tây “soldats”, nghĩa đơn giản là “lính”. Vài năm sau thấy tình hình yên ổn Tây đổi thành lính làm trường học dạy chữ Quốc ngữ và chữ Tây. Thành săn đá ở trên bờ Bắc con rạch Cửa Khâu.
Viên Chánh Tham biện, tức Tỉnh trưởng Gò Công đầu tiên người Pháp à Trung úy Hải quân Guys là công trình sư qui hoạch làng làm tỉnh lỵ. Ông ta cho đào vét con rạch thiên nhiên là Rạch Cửa Khâu, tên chữ Hán là Khâu Giang. Rạch có vàm rộng giáp rạch Gò Công. Bắt đầu tại Bến Bạch Đằng bây giờ, chảy qua trường Kỹ Thuật, qua thư viện Hải Phòng qua Trường Nam chạy thẳng qua chỗ Cầu Tây Ban Nha, chảy qua Cầu Huyện chạy mãi rồi qua Cầu Giồng Nâu chạy qua Cầu Tăng Hòa rồi ra Cửa Tiểu.
Con rạch nầy thời cựu là thủy đạo từ chợ Gò Công ra phía Cửa Tiểu, ra biển.
Pháp nạo vét cả con rạch và đặt lại tên là Canal Salicetti. Riêng phần kinh nội thị Pháp sửa sang thành đoạn kinh đẹp đẽ và gọi L’Arroyo Salicetti, cũng là Kinh Salicetti phần nội thị. Hai bên mé Kinh nội thị cẩn đá và xây bực xuống từng đoạn để ghe xuồng cập mé lên xuống. Mé bên Nam, bên chợ có rào chắn bằng trụ xi măng giăng hai thanh “railles” sắt đứt khoảng chỗ có bực đá ghe xuồng đến đậu. Rào bên Nam nầy qua khỏi nhà Bà Phước đến ngõ ba rồi hết, thế bằng hàng cây ô môi Tây và mé kinh từ đấy không có kè đá.
Đọc theo Kinh mé Nam và Bắc đều có đường cặp theo: Đường mặt Nam tráng nhựa đẹp còn mãi đến giờ: đường Hai Bà Trưng. Đường cập mé Bắc thoạt đầu là con đường đá kể từ Vàm qua trước trường Nữ tới đầu đường Trần Hưng Đạo bây giờ, bị xoá các năm 1964 – 1965. Đoạn chạy qua Trường Quan tức trường Nam bây giờ vẫn còn nhưng tới đường đến Dinh Tỉnh trưởng rồi dứt. Đoạn tiếp bị xóa từ 1955…
Trở lại từ các năm đầu Tây vô 1868 cho đến năm 1943, phía Nam và Bắc con Kinh được nối bằng 3 cái cầu sắt. Lúc đó 2 bên bờ Kinh nội thị nầy đẹp lắm.
Cái cầu thứ nhứt bắc rất sớm, vét kinh xong là bắc để từ phía Nam qua cầu rẻ trái là đến thành săn đá sau là trường học, còn chạy thẳng là đến Dinh Chánh Tham biện (Dinh nầy duy nhất còn lại đang chờ trùng tu). Đây là chiếc cầu sắt đẹp tôi có mô tả ở các bài đăng rồi. Tôi có đi bộ qua lại trên cầu hai năm (1942 – 1943) để đi học. Cái cầu sắt Tây đặt tên là Cầu Albert Sarraut, tên một quan toàn quyền Pháp, người dân thấy cầu dẫn qua Dinh Quan Chánh Tham biện nên gọi là Cầu Quan và gọi luôn ngôi trường lầu chữ Thập là Trường Quan, dù rằng tên chánh thức bằng tiếng Tây nghĩa Việt là Trường Nam Tiểu học Gò Công. Cho tới 1943, chiếc cầu nối lền bên Nam bên Bắc. Từ Chợ xe đò chạy đi Sài Gòn hay về đều qua cầu nầy. Xe ngựa từ Chợ về các làng phía Bắc như Tân Niên Trung…phía Đông Bắc như Tân Niên Đông…hay Bình Ân thì qua Cầu Huyện.
Tiếp con Kinh còn hai chiếc cầu sắt nữa trong nội thị là Cầu Phủ (cầu sắt nhỏ nối đoạn đường phía Bắc qua Nhà Thờ và đoạn lộ Me phía Nam, cầu hư các năm đầu 1940 bị bán sắt vụn với Cầu Quan năm 1943, rôi sau lâu lắm từ 1967 có cái cầu gỗ nhỏ gọi là Cầu Tây Ban Nha, thành danh tới giờ. Còn cây Cầu Huyện dân Gò Công ai cũng biết vị trí, còn tên, nhưng cái Cầu Huyện đâu không thấy vì nó bị đốt đầu năm 1948. Họ không thấy cần bắc lại cầu sắt vì phía Cầu Quan đã đăt cống đắp đường rồi nên dở luôn sườn sắt đặt cống đắp đường. Giờ thì không còn cống, phía bên đông còn con kinh người ta quen gọi là sông Cầu Huyện bị lấn chiếm, vì là đoạn sông vô dụng.
PHẦN III
CÁI CHẾT CỦA CHIẾC CẦU,
PISCINE, HỒ TẮM RA ĐỜI
Năm 1940 Tây cho đào thêm một kinh phía Nam Kinh Salicetti, theo con rạch từ Vĩnh Lợi tới rạch sông Long Chiến thì chạy thẳng ở mặt Nam nội thị qua cây Cầu Đúc lên Yên luông Đông và Cầu Đúc Lò Heo đi Tăng Hoà rồi gặp Kinh Salicetti, lại tách băng qua Xóm Dinh, Xóm Vạn Thắng bằng cây Cầu Đúc nữa. Nó hướng về Đông đến làng Bình Ân qua cầu sắt thẳng ra làng Tân Bình Điền qua cầu cây xưa gọi Cầu Khỉ, giờ có cây cầu mới gọi là Cầu Tam Bản (thế cầu Tam Bản xưa ở Hộ Bắc không còn) rồi thoát ra biển ở Cửa Rạch Bùn.
Chính đoạn kinh thứ nhì có 2 cái cầu đúc, một là cầu đúc lên Yên Luông, một vô Tăng Hòa. Đoạn kinh Cầu Đúc nầy chạy qua miền Nam khu nội thị, nay vẫn còn, đã khiến khai tử đoạn Kinh Salicetti qua chợ và 3 cây cầu sắt sau nầy.
Đầu năm 1943, người ta đấp con đập, đặt cống qua kinh Salicetti ở hai đầu Bắc, Nam đường Trần Hưng Đạo bây giờ. Chặn kinh nối đường và xe không qua Cầu Quan nữa. Chúng tôi thấy vui, cũng đi qua trường bằng đường mới. Rồi người ta bắt đầu dở bỏ Cầu Quan. Dân dồn Tây cho dở cầu bán sắt vì thua trận bên nước Pháp. Nhưng không phải vậy. Viên Chánh tham biện Tây cuối cùng là Ropion có kế hoạch bỏ thủy đạo trên đoạn kinh nội thị nầy.
Sau khi cũng cố đập mới thành đường thông suốt cách Cầu Quan 100 mét về phía Tây hướng Chợ, Tây cho dở Cầu Quan. Dở Cầu Quan xong, họ cho đắp đất làm đường thế cầu, không đặt cống. Thế là có một đoạn kinh, ta thấy trên hình, trước Trường Quan được sửa sang, cẩn lại bậc đá bên bờ Bắc làm thành Piscine tức hồ tắm cho Chợ Gò Công.
Hồ tắm dài và rộng hơn bất cứ hồ tắm xây nào ở các tỉnh miền Nam và cả Sài Gòn. Người dân bắt đầu gọi hồ tắm là Piscine và tên Trường Quan bị quên dần, bắt đầu được gọi là Trường Nam Piscine. Hai phía của Piscine, con kinh đứt khúc, nước vẫn lớn vẫn ròng. Đoạn kinh bên chợ nán được 15 năm rồi thành đất, cất trường học nghề và nhà cửa. Bên Đông lâu lắm mới thành đất khi cầu Tây Ban Nha thành đường mới mươi năm nay.
Trở lại Piscine luôn đầy ấp nước, lâu lâu thay nước một lần. Nước là nước sông lấy khi nước lớn ỡ vàm bên phía chợ. Hồ đầy ấp nước cũng trong cũng sạch, không ô trọc, ngọt lợ tuỳ theo mùa. Thanh thiếu niên ở chợ bắt đầu đi tắm và bơi lội trên hồ. Lần lần các học trò lớn của trường Nam cũng xuống bơi lội, đùa giởn. Học trò hơi nhỏ có thể học bơi trong mé nhờ có bậc để hai tay bám vào. Thanh niên ở chợ khi tắm thì mặc quần cụt, còn học trò thì cởi quần áo gói tập vở để trên bờ và tấm trần truồng, gần đến giờ học thì nhảy lên bận quần áo và chạy vào trường.
Tôi lại có kỷ niệm với Piscine nầy.
Sau năm 1945, họ lại làm thêm cầu ván thấp ngang qua Piscine lối trước cửa Bưu Điện, để làm cầu nhảy. Các học trò và các bạn học của tôi còn học trường Nam, leo lên cầu ôm vật xô nhau xuống nước, vui thật là vui… Tôi không biết lội, học lội ở mé hồ và sau vài lần uống nước và một lần hụt tay chìm xuống đáy, may nhờ vớ trúng bậc đá cuối, lần theo bậc mà trồi lên. Hú vía và biết lội! Vẫn tắm trần truồng và đùa vui như thế cho đến năm 1949, tôi rời trường lên Sàigòn học tiếp trung học.
Năm 1955 tôi trở lại quê nhà, bắt đầu đi dạy ở trường làng và khi đi ngang Piscine để vào văn phòng Ty Học chánh tôi vẫn thấy các em học sinh, thế hệ thứ hai sau chúng tôi xưa, vẫn còn tắm truồng. Được biết lúc nầy thầy cũ của tôi là thầy Võ văn Giáp đang làm Hiệu trưởng Trường Nam. Trưa trước giờ học chừng nửa tiếng thầy thường đạp xe rảo chung quanh trường, gặp học sinh đổ xí ngầu thầy dừng lại tịch thu xí ngầu và chộp đứa đang chơi để phạt. Đặc biệt thầy thường đi bộ từ văn phòng ra bờ Piscine, nếu thấy học sinh bỏ quần áo trên mé tắm truồng, thầy cho gom hết. Trống đánh vào học, các học sinh nhảy lên bờ thấy mất quần áo tập vở và được biết ông Hiệu trưởng lấy, đứa nào đứa nấy xanh mặt chạy vào văn phòng Hiệu trưởng, đứng xếp hàng chờ phạt. Thường thì thọ phạt xong chờ thầy dạy lớp đến lảnh về. Năm 1957, tôi về dạy lớp Nhất trường Nam, chưa đầy một tuần đã được mời xuống văn phòng lảnh một tốp học trò “quí” tắm Piscine trước giờ học buổi chiều. Chắc có lẽ thầy Hiệu trưởng muốn nhắc nhở thầy giáo mới, bảo phải răn đe các em. Dẫn các em về lớp mà tôi nhớ lại mới mười năm trước, chúng tôi cũng tắm như thế nhưng may không bị lấy quần áo! Tôi chỉ nhỏ nhẹ cắt nghĩa cái hại khi đi tắm mà không chuẩn bị kỹ, tắm trước buổi phải vào học là cập rập, mệt vọp bẻ là chết đuối, piscine nước sâu v.v. vã lại đã học lớp Nhất rồi, tương lai đang đợi. Còn các em tắm truồng, tôi nghiêm mặt và rầy trước lớp: “Lớn tồng ngồng mà còn tắm truồng, bộ đây là dòng sông, con rạch ở quê nhà các em sao?”.
Sau đó học trò tôi không tái phạm nữa, nhưng mỗi khi dạy xong bài, tôi ra hành lang lớp trên lầu ngó ra Piscine. Ôi Piscine coi mênh mông mà hiền hoà, suốt cuộc tồn tại chỉ giúp học trò (chỉ hơi tiếc là chỉ riêng học trò nam thôi!) bơi lội đùa vui chưa lần nào gây mất mát. Tôi bâng khuâng nhớ mới ngày nào, nhớ tuổi học trò vô tư đùa nghịch. Đứng trên lầu đôi lần tôi tạm không thấy Piscine để tưởng tượng trước mặt là con kinh chạy từ vàm thanh thoát bên phải và bên trái tôi là chiếc Cầu Quan, chiếc cầu đi học đầu đời của tôi, phía đông xa xa chiếc Cầu Phủ nhạt nhoà, và ôi chiếc Cầu Huyện, một buổi sáng buồn mùa xuân 1948, cho rơi những ván lót còn ngún khói xuống dòng kinh…!
Suốt năm năm như thế, tôi đứng hành lang lớp học trên lầu trông ra.
Tôi tưởng thấy cảnh trước mặt y hịch như trên tấm hình trên vậy !
(Trích một bài viết trước)
Nay quí khách có đến trung tâm thị xã Gò Công, quí khách sẽ thấy cái công viên đẹp tên là Công viên Đài Chiến tích Xuân Mậu Thân tức là trọn trên mặt cái Piscine xưa. Cầu Quan là đoạn đường Lưu Thị Dung sau bức tượng. Trước công viên là đoạn đường Trân Hưng Đạo là con đập đắp qua Kinh năm 1943. Và xin quí khách biết cho những người Gò Công cố cựu như chúng tôi biết và gọi con kinh cũ là Kinh Salicetti.
PHAN THANH SẮC Đọc thêm!
Từ các năm 1980, chúng tôi có thấy được tập ảnh GÒ CÔNG in 10 tấm ảnh các dinh thự, cầu sông. Tập ảnh chắc phải in các năm đầu 1940 vì như tấm ảnh cầu Quan thì phải trước 1943 là năm phá cầu Quan đấp đập ngăn kinh Salicetti chỗ cầu và nối hai đầu đường Trần Hưng Đạo bây giờ để làm piscine trước trường Quan. Hay như tấm ảnh có tháp lãnh binh Huỳnh Công Tấn tại phòng thông tin sau nầy, bị nhân dân đập phá tháng 9 – 1045. Tất cả 10 tấm ảnh đều có ghi 2 hàng chữ Việt trên và Pháp dưới. Mỗi tấm ảnh đều không lầm lẫn được, không cần phải đoán là tòa nhà gì, nhà việc ở Đồng Sơn, cái bến ghe và chợ Vĩnh Lợi hay ngôi chùa Việt v.v. Vấn đề ở đây là xác định vị trí chính xác của từng tấm ảnh vì ảnh còn mà cấu trúc đã mất hay bị thay đổi khó nhận ra. Trong cuốn Gò Công Cảnh Cũ Người Xưa của Việt Cúc do các con ông tái bản năm 1998, anh Nguyễn Văn Duy có đưa in thêm ở phần “Phụ lục ảnh” tất cả 10 tấm ảnh nầy, ghi tên các ảnh một cách chính xác. Riêng tôi, trong 10 tấm ảnh tôi biết và đã từng đứng trước 9 trên 10 cảnh hay ngôi nhà của tập ảnh. Ảnh thứ 10, cũng là ảnh chót trong tập ảnh ghi là “Ngôi chùa người Việt” tiếng Pháp ghi: Go Cong – Pagode Annamite, tôi không biết ở đâu, trên 20 năm rồi tôi cố hỏi không ai cho tôi biết cả. Trong các bài viết về Gò Công ngày cũ do anh Hoàng Ngọc Hùng “post” lên trang GÒ CÔNG, tôi có sử dụng 6 tấm ảnh, toàn ở trong “chợ Gò Công” cả. Chúng tôi những người tuổi 60 – 70 gọi "chợ Gò Công" tức nội thị của tỉnh lỵ cũ giờ là nội thị của Thị xã.
Vì hiện nay tôi muốn nhắc lại ngày cũ của quê mình nên tôi sẽ “post” lên từng tấm ảnh với những điều tôi biết hay do các bậc trưởng thượng kể cho tôi từ lúc nhỏ, đâu từ năm 1940 là năm tôi bắt đầu có ý thức liên tục đến giờ.
Tôi sẽ bắt đầu bằng tấm ảnh bìa GÒ CÔNG, ảnh “Chợ mới Gò Công”
HÌNH GÒ CÔNG NGÀY CŨ SỐ 1
CHỢ MỚI GÒ CÔNG
(Go Cong – Le marché)
PHẦN I:
Xuất xứ hình: Từ tập ảnh của nhà Photo Nadal – Sài Gon, các năm trước 1940.
Vị trí hình: Chụp từ góc 2 con đường chính: Boulevard Rodier và Rue Đốc Phủ Đức, ngày nay là đường Trương Định và Hai Bà Trưng.
Gọi là “Chợ mới Gò Công” chứ cũng đã lâu gần trăm năm, từ năm 1916. Dân Gò Công cố cựu gọi chợ mới để so với Chợ cũ có từ thời thôn Thuận Ngãi của huyện Tân Hòa hồi Pháp chưa vô. Ngày nay có khu Chợ mới khác rồi!
Nhìn tấm hình trên rồi xác định:
Đó là hình chợ Gò Công. Chợ gồm 2 phần mà hình chỉ cho thấy có dãy chánh bên phải, nhà lồng tiêu biểu, phần giữa mái nhô cao, 2 cánh phải trái mái thấp xuống trông tưởng ba phần riêng nhưng vào trong, mặt bằng mênh mông, cột và sườn bằng sắt. Xưa và bây giờ vẫn vậy có những gian sạp bán hàng vải vóc, kim chỉ, đồ sắt, vật dụng…
Nhớ, trò nhỏ là tôi, các năm 1946 đến 1949 thường vào chợ mua tập vở, viết mực viết chì v.v mua mấy cục kè chai để chơi bắn kè và mua cả viết máy… loại thường. Tôi mua cả các cuốn thơ khổ cuốn tập (vở) 16 trang do nhà in Phạm Văn Thìn ở Sài Gòn xuất bản các truyện thơ vần lục bát như Lục Vân Tiên, Hậu Lục Vân Tiên, Chàng Nhái Kiển Tiên…Lâm Sanh Xuân Nương, Thoại Khanh Châu Tuấn, lần lượt cả mấy chục tựa. Ngộ là tôi mua tại sạp bán kim chỉ, dây thun, nút bóp…Mỗi cuốn truyện thơ giá bán 2 đồng bạc, kể cũng mắc, giá bằng tô hủ tiếu chợ Gò. Trò nhỏ như tôi, đi học má cho có 2 đồng bạc ăn bánh hai buổi, nhưng vào chợ thấy có thơ mới là nhịn ăn mua một cuốn đem về cho má đọc. Má không biết chữ nhờ mê truyện thơ nên tự mò mà dọc được chữ in. Thấy bạn bè có viết máy bơm mực vào ruột cao su viết cả ngày, mê lắm, để dành tiền được 5, 7 đồng bạc vào chợ đến sạp kim chỉ, rờ rờ, lựa lựa các cây viết máy, thế nào cũng mua được một cây. Viết le lói chừng một vài tháng là ngòi rè hay xuống mực tùm lum vì là viết máy xấu. Rồi mua nữa, mua hoài đến khi đi học ở Sài Gòn từ năm 1949 mới có được viết máy tốt…
Đấy kỷ niệm thời học trò của tôi đối với khu nhà lồng chợ nầy là như thế.
À có nhớ, nhà lồng sườn sắt trên nóc nhà lồng có cái “lồng cu” thuở đó cũng trống huơ không biết ban đầu đựng cái gì, không phải cái đồng hồ đâu, cái đồng hồ tròn có 2 kim đặt giữa vòng bán nguyệt dưới đầu mặt tiền, dòm kỹ mặt tiền sẽ thấy, dưới cái đồng hồ có hàng số nổi bằng sắt ghi 1916.
Vậy thì ai ở Gò Công đi chợ mươi năm về trước cũng thấy số ghi năm nầy, vô hình chung biết chợ cất xong năm 1916.
Còn khai thị bây giờ gọi là khánh thành thì tổ chức rầm rộ vào tháng giêng ta năm Đinh Tỵ tính ra lối tháng hai năm 1917:
Bài vè “Khai Thị Gò Công” bắt đầu như sau:
Tháng Giêng năm Tỵ, khai thị Gò Công.
Xin xem phụ lục phần trích bài vè Khai thị phía dưới.
Tiếp các phần còn lại của chợ, không có trong hình, ngày nay vào chợ sẽ phân biệt được, vẫn còn, nếu may mắn còn vài chục năm nữa…
Đứng từ đường Hai Bà Trưng bây giờ, nhìn vào mặt chợ, bên trái là khoảng trống diện tích hẹp. Nói trống chứ từ hồi nẫm vẫn có đặt sạp bán rau cải, xưa gọi hàng lê ghim (légumes), đồ tạp hóa khô v..v..
Rồi trái nữa là nhà lồng thứ nhì bán cá, thịt, hình dạng tương tự, qui mô nhỏ hơn nhà lồng chính.
Từ khi tôi biết vào chợ tôi vào nhà lồng chợ bán cá và thịt nầy chắc còn ít hơn các ngón của hai bàn tay. Phía sau khu chợ nầy giáp sông nên các năm cuối 1950 nhà nước mới cất một dãy nhà tiêu trên sông. Quả tình, tôi không biết mặt mũi nó ra sao…
Gần mươi năm trước có kế hoạch xây chợ “hiện đại” như bây giờ thấy trên khu nhà thương và các nhà xung quanh cũ, nên khu chợ sườn sắt được cải tạo mặt tiền bằng một khu có lầu hiện tại che mất hai mặt tiền các nhà lồng sườn sắt đi nên ai đi xa về nhìn vào khu chợ tưởng đã phá bỏ các khu nhà lồng thay chợ mới. Không phải..nhìn chung chợ vẫn còn. Bây giờ mặt tiền bê tông vẫn có cái đồng hồ điện tử, cũng giống mặt đồng hồ dây thiều cũ và giống luôn là hai kim, à bây giờ ba kim vẫn trơ cùng năm tháng...
Còn bên phải của nhà lồng chợ chánh giáp với đoạn đường phía Bắc đường Trương Định bây giờ bị các sạp chợ chiếm tới mé sông.
PHẦN II
LỊCH SỬ NGÔI CHỢ
Về lịch sử của ngôi chợ, cũng giống như lịch sử khu phía Tây đường Trương Định. Phải hiểu là con đường từ mé sông phía Bắc đến phía Nam trước tượng đài Trương Định bây giờ.
Nguyên con đường nầy cho tới khi Pháp đến Gò Công năm 1862 là con rạch cùn. Nó chia thôn Thuận Ngãi nơi đặt lỵ sở huyện Tân Hòa thành bên Đông và bên Tây. Bên Đông con rạch là phần đất đã có phố sá sầm uất nằm trên trục giữa hai con đường Rạch Gầm và Lê Lời bây giờ, kể luôn phần mé sông.
Trên trục nầy từ mé sông lên là nhà lồng chợ Thuận Ngãi, nay là Bến Bạch Đằng và Phòng Thông tin. Rôi bãi đất rồi lỵ sở huyện Tân Hòa (thời Pháp cất lại thành Nhà việc làng Thành Phố, ngày nay là cơ sở Bưu điện). Trên trục nầy có ngôi đình thôn Thuận Ngãi, sau cất lại làm Đình làng Thành Phố.
Tới năm 1916 có ngôi chợ mới, nên bỏ nhà lồng chợ của thôn Thuận Ngãi và từ đó hai khu phố hai bên Nhà việc làng Thành Phố được gọi là khu Chợ cũ. Giờ thì chỉ có những người cố cựu mới biết “chợ cũ” ở đâu.
Cái nhà lồng “chợ cũ” có cái mốc lịch sử: tháng 8 – 1864 Pháp đem thây của Trương Công Định sau khi người anh hùng tuẩn tiết tại Gia Thuận về phơi 3 ngày tại nhà lồng chợ Thuận Ngãi. Bà Hầu Trần Thị Sanh đội đơn xin Pháp lãnh thi thể của chồng về chôn trên đất của họ Trần bên bờ Tây của con rạch cùng.
Ngày nay ta thấy mộ người anh hùng nằm như là giữa lòng Thị xã, chứ năm 1864 đó khu đất họ Trần nầy kể như ở vùng phụ cận của lỵ sở và vì lẽ đó chính quyền Pháp mới thuận cho chôn ở vị trí nầy.
Từ khu đất họ Trần phải qua cầu cây trên con rạch mới đến lỵ sở và nhà lồng chợ. Từ năm 1867 là năm Pháp bắt đầu lập đổi toàn huyện Tân Hòa thành hạt Gò Công thì làng Thành Phố được lập để làm tỉnh lỵ. Làng Thành Phố là sự sáp nhập hai thôn Thuận Ngãi phía Nam và Thuận Tắc phía Bắc qua con rạch thiên nhiên Cửa Khâu. Con rạch Cửa Khâu được qui hoạch nạo vét từ 1868 thành Kinh Salicetti, sẽ bắc các cầu sắt nối 2 thôn cũ: Cầu Quan, Cầu Phủ , Cầu Huyện (trong nội thị). Còn 2 cây cầu sắt trên kinh nữa như cầu Giồng Nâu, cầu Tăng Hòa. (xem các bài khác).Làng Thành Phố (tỉnh lỵ Gò Công cho tới năm 1954) tức nhiên nhỏ hơn xã Long Thuận kế tiếp, tỉnh lỵ của tỉnh Gò Công cũ (1964 – 1975). Từ năm 1956, làng Thành Phố nhập với làng Long Chánh thành xã Long Thuận cho đến 1975, xã Long Thuận trước 1975 không phải là xã Long Thuận ngày nay và xã Long Thuận trước 1975 nhỏ hơn Thị xã ngày nay.
Trở lại, khi lập làng Thành Phố từ năm 1864 Pháp cho đấp con rạch cùn thành một con đường rộng, cải tạo dần dần qua năm tháng thành con đường đại lộ duy nhất của Gò Công theo tiêu chuẩn của Pháp và đặt tên là Boulevard Rodier. Tên chữ Tây khó kêu nên dân chúng kêu là đường Kinh lấp, mãi đến năm 1950 mới đặt tên Việt là đại lộ Phạm Đăng Hưng. Sau 1975 đặt lại đường Trương Định.
Tiếp nhờ có đường Kinh lấp mà khu phía Tây con rạch xưa mới phát triển, phân thêm đường nội thị, bắc cầu Long Chiến, cất Nhà Thương v.v.
Rồi Chợ mới Gò Công được xây xong năm Bính Thìn 1916 và khai thị tức ăn khánh thành ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Tỵ - 1917, có dưng cộ bông của bốn chục làng trong tỉnh.
Phần III: sẽ trích giới thiệu bài vè Khai thị Gò Công
PHỤ LỤC
VÈ KHAI THỊ GÒ CÔNG
Tháng Giêng năm Tỵ
Khai thị Gò Công
Thiên hạ rất đông
Các làng đều đủ
Có mời Huyện Phủ
Lại có Tổng Làng
Dự tiệc khách quan
Có mời Chánh soái
Chín giờ xe lại
Nhằm bửa mười hai
Các quan Đội Cai
Đi ra hầu đón
………...................……
Đem cộ sắp hàng
Tại đàng KINH LẤP
Những cái cộ thấp
Sắp trước cộ cao
Nghe những lời rao
Kẻ khiêng người đẩy
Thiên hạ đầy dẫy
Ngỏng cổ mà coi
Cộ tốt hẳn hòi
Có rồng lân múa
Có cộ bằng lúa
Kết khéo rỡ ràng
Trên cộ có tàn
Treo cờ gắn chữ
Chữ Tây, Quốc ngữ
Bằng gạo trắng không
Có kẻ kết bông
Người thì kết phụng
………………….
Có cộ nho nhỏ
Đứa giã đứa xay
Cộ tốt thẳng tay
Đồng Sơn hạng nhất
…………......……………
Ghe đáy kết bông
Làm theo Nghinh Ông [1]
Đốt đèn đốt pháo
Các rạch đòi ráo
Không chê chiếc nào
Đậu tại Cầu Tàu
Sắp lên Long Chiến [2]
Ở dưới đèn kiếng
Trên thì đèn bông
Đốt chói đỏ sông
Xanh vàng rực rỡ
Hạt [3] ta mấy thưở
Mới có một lần
Nghèo giàu không cần
Ăn chơi phỉ dạ
……….....................……
(Tác giả: Khuyết danh)
---------------------------------------------------------
[1] Ở xã Vàng Láng Gò Công vì là làng chài lưới và có đền thờ Cá Ông gọi là Lăng Ông nên hằng năm vào ngày rằm tháng Sáu âm lịch và các ngày kế tiếp làm lễ cúng Ông tức Cá Ông rất trọng thể, nghi lễ chính là đêm bắt đầu lễ có ghe trang hoàng hực hỡ chở hương án cùng Ban Cúng tế và đào kép hát bội dẫn đầu đoàn ghe chài ra vàm sông cửa biển, cúng tế làm lễ nghinh rước Ông về đình lăng để thực hiện các nghi lễ cúng tế tiếp. Lễ nghinh Ông ngày nay vẫn còn, vẫn trang trọng như xưa nhưng ngày tổ chức dời về rằm tháng ba âm lịch để tránh mưa.
2 Long Chánh, dân Gò Công xưa gọi Long Chiến thay vì Long Chánh, Bình Thiền thay vì Bình Thành
[3] Về hành chánh đầu các năm 1900, Gò Công là Hạt Gò Công (Arrondissement de Go Cong) sau mới đổi thành Tỉnh Gò Công (Province de Go Cong)
PHAN THANH SẮC
Đọc thêm!






